Showing posts with label Phỏng Vấn. Show all posts
Showing posts with label Phỏng Vấn. Show all posts

Wednesday, January 21, 2009

Diễm Liên Trong Rừng Già Thái Lan


Đỗ Tăng Bí


Diễm Liên vừa trở về sau một tháng đóng phim ở Thái Lan. Vùng quê Thái Lan là nơi đạo diễn Hàm Trần chọn để quay cảnh trại tù Cộng Sản ở Việt Nam cho phim “Journey From The Fall”, một cuốn phim ca ngợi cuộc phấn đấu của một gia đình Việt Nam khi họ đến Mỹ, gợi lại một giai đoạn lịch sử của cuộc chiến Việt Nam và những gì liên hệ đến cuộc sống của mọi người Việt Nam trên thế giới. Cuốn phim đã như một thiên anh hùng ca vinh danh những người vợ tù cải tạo, những phụ nữ mãi mãi sau này chúng ta còn phải mang ơn.
Một ngày cuối tuần, chúng tôi gặp Diễm Liên tại toà soạn Người Việt, hỏi han cô về chuyện ca hát, chuyện đóng phim. Phần dưới đây Diễm Liên kể lại những điều lý thú khi đóng phim dưới sự hướng dẫn của đạo diễn Hàm Trần. Trả lời câu hỏi do đâu cô bước vào ngành điện ảnh, cô thích thú nói:
Diễm Liên: Chuyện đóng phim của con cũng giống như chuyện làm ca sĩ vậy, nghĩa là con không hề định trước. Chú biết con đâu có thường xuyên nghe đài, đọc báo nên không biết có cuộc tuyển trọn người đóng cho một cuốn phim của đạo diễn Hàm Trần. Một bữa anh bạn con là Lâm Nguyễn, producer của phim, gọi điện thoại kêu con ra đóng thử phim. Con ngạc nhiên nói: “Are you crazy? Bộ không sợ hư phim hở?” Và con nói “Không!” Lâm nói: “Thì thử thôi, làm gì dữ vậy!” Con vẫn cương quyết không. Xưa nay con có bao giờ nghĩ đến chuyện đóng phim đâu, tự nhiên đi đóng thử, kỳ quá. Mãi rồi Lâm phải nói: “Thôi, bây giờ Diễm Liên hãy vì tình bạn bè mà đi thử, có được không?” Lúc đó con đành phải nhận lời. “Vì bạn bè” là một câu chúng con chỉ dùng khi năn nỉ thật sự hết nước rồi, và cũng là câu chúng con khó từ chối nhau.
Thực ra con nghĩ là không một đạo diễn nào lại muốn một ca sĩ đóng phim của người ta. Con cũng giới thiệu một số bạn bè cho Lâm, giới thiệu nhiều ca sĩ bạn bè. Vậy mà họ vẫn chưa hài lòng. Cuối cùng con cũng phải đến gặp họ, và con không biết rằng con là người cuối cùng của cuộc tuyển chọn. Không ngờ cả nhà sản xuất là Nguyễn Lâm và đạo diễn Trần Hàm đều ưng ý về con.
Trong một chương trình phỏng vấn truyền thanh trên đài phát thanh VNCR do Y Sa thực hiện, đạo diễn Hàm Trần đã kể lại chuyện tìm diễn viên khó thế nào, nhất là vai bà vợ người tù cải tạo tên là Mai. Câu chuyện phim xoay quanh gia đình 4 người, người chồng đi tù cải tạo đã có Long Nguyễn thủ vai, Bà Nội tức mẹ của người chồng thì do nữ tài tử Kiều Chinh nhận lời, cậu con trai người tù là bé Lai thì đã tuyển được cháu Nguyễn Thái Nguyên, chỉ còn người vợ tìm mãi không ra nhân vật nào thích hợp. Đạo diễn Hàm Trần nhờ mọi phương tiện truyền thông để tìm. Hàm cũng đến cả những nơi phụ nữ thường lui tới như những tiệm làm nails, la cà vào cả khu Phúc Lộc Thọ để tìm kiếm, nhiều khi bị người ta hiểu lầm là một tay đi “dê” gái vì gặp cô nào có vẻ hợp một tý là xán lại gạ chuyện.... Bạn hữu cũng giúp Hàm. Bao nhiêu người được giới thiệu đến cho Hàm. Diễm Liên cũng giới thiệu nhiều bạn bè quen biết. Nhưng đạo diễn khó tính Hàm Trần chưa kiếm ra ai ưng ý. Cho đến một lúc Lâm Nguyễn, Producer, nẩy ra ý kiến tại sao không mời Diễm Liên đến thử. Mãi rồi Diễm Liên cũng chịu đến. Hàm nói Diễm Liên hãy nghĩ đến một hoàn cảnh buồn khổ trong cuộc sống và diễn xuất. Diễm Liên hỏi: “Which one?” Bởi vì trong đời sống cô từ nhỏ nhiều chuyện khổ cực lắm. Và Diễm Liên diễn thử trong mấy phút. Chỉ mấy phút đó thôi đủ để cả Lâm và Hàm bị “hớp hồn”. Thế là đã tìm ra người đóng vai bà vợ người tù cải tạo. Trả lời câu hỏi rằng chưa từng nghĩ đến chuyện đóng phim thì làm sao cô đóng được, cô nói:
Diễm Liên: Về chuyện đóng phim, con phải ghi nhận là chính đạo diễn Trần Hàm đã “dựng “ lên con. Đó là một đạo diễn rất giỏi. Anh ta có thể làm một con người thay đổi hoàn toàn (để cho nhập vào vai diễn). Một số những nhà đầu tư được coi những đoạn phim ngăn ngắn đã diễn qua đều rất thích và tin ở Trần Hàm. Con thật sự rất “trust” anh ấy. Hàm nói cái gì con làm cái đó. Giả như nếu con rơi vào tay một đạo diễn dở thì con sẽ trở thành người diễn xuất dở. May mắn là con có Hàm nên được hướng dẫn rất nhiều. Do đó con hoàn toàn tin tưởng ở Hàm, Hàm muốn con làm gì con làm chính xác như vậy.
Hỏi: Giữ vai chính, con có thấy là diễn xuất thành công không?
Diễm Liên: Có nhiều vai chính, như anh Long Nguyễn và cô Kiều Chinh, ... và con. Bây giờ con cũng không thể nói được là con đóng thế nào. Như con đã nói, con “trust” Hàm. Con cố gắng làm đúng những gì Hàm muốn. Đây là phim của Hàm, nếu “he sucks” thì con cũng “suck too!” Bây giờ con không thể nói được là con có thành công không. Ngay cả khi con được coi lại mấy đoạn phim đã đóng, con cũng không biết được là thế nào. Mới đầu con sợ coi lại lắm. Ở Thái Lan con không hề dám coi, chỉ khi về đây, con tự nhủ trước sau thì mình cũng sẽ phải một lần coi xem mình đóng ra sao, con cũng tò mò nữa, lúc đó con mới coi mấy đoạn. Thực ra coi từng đoạn như vậy con cũng không biết ra sao. Phải chờ cho phim ráp nối xong, coi từ đầu đến cuối, con mới biết được là “I made it or not”.
Hỏi: So sánh với ca hát, sự chuẩn bị của con mỗi khi đóng một cảnh chắc phải khác, có khó khăn nhiều không?
Diễm Liên: Đóng phim quả thực là những gì “very challenging!” Khi hát con biết rõ con hát ra sao, con biết “Where am I!” Con biết rõ con ở đâu trong mỗi buổi trình diễn. Con biết con ở đâu trong giới ca sĩ, con biết con thua ai, bằng ai, hơn ai. Còn trong “movie, I don’t know!” Trong phim ảnh con không biết con ra sao. Rất là “challenging.” Sau khi hát xong một bài bước xuống khỏi bục diễn, con biết “I did good or not”. Còn ở đây, khi Hàm quăng ra một tờ giấy ngày hôm nay phải làm những gì, thì con cứ như là thời đi học. Cầm tờ giấy đọc và suy nghĩ, không biết mình có “thuộc bài” không, có làm được không, phải làm thế nào đây...
Cách làm việc của Hàm là mỗi người cầm một kịch bản và đọc cho biết câu chuyện diễn tiến ra sao. Khi qua đến Thái Lan, mỗi ngày họ in ra những trang giấy nói rõ ai làm chuyện gì. Việc diễn xuất không phải cứ theo thứ tự của câu chuyện. Có khi sáng diễn đoạn sau, chiều hoặc mai lại diễn đoạn trước đó, không phải như khi mình đóng kịch. Đóng kịch mình cứ theo diễn tiến vở kịch, cái feeling của mình cũng diễn tiến theo như thế. Còn đóng phim, đang khúc vui đổi ngược trở lại khúc buồn trước đó, nên mỗi khi diễn một cảnh mình phải làm sao có được tâm trạng của cảnh đó, mà phải có ngay lập tức, bao nhiêu máy móc, bao nhiêu người đang chờ mình diễn xuất.
Ở trên chúng ta đã nghe Hàm Trần kể chuyện bị Diễm Liên hớp hồn ngay sau mấy phút diễn thử đầu tiên. Điều chúng tôi thắc mắc là từ đâu cô có được những cảm xúc thích hợp để diễn xuất? Cô phải suy nghĩ những gì, tưởng tượng ra sao về hành vi, cử chỉ của nhân vật trong phim. Trả lời thắc mắc đó, cô nói giản dị:
Diễm Liên: Đó chính là việc Hàm làm. Anh ấy giúp con rất nhiều để con có được cảm xúc hợp với mỗi cảnh diễn. Thành ra con thấy đóng phim khó quá đi, không giống như hát chút nào. Khó quá trời chú ạ.
Hỏi: Cụ thể con có thể nói rõ là với mỗi cảnh diễn như vậy, Hàm chỉ con những gì, nói với con như thế nào?
Diễm Liên: Kể lại chắc chú sẽ thấy chuyện nó kỳ cục lắm. Con lấy một cảnh làm thí dụ. Con đóng vai người vợ đi thăm chồng tù cải tạo. Cảnh đó thế này: Anh Long (đóng vai chồng con) đứng đây, con đứng đây (đối diện), còn Hàm đứng đây (sau lưng Diễm Liên). Câu nói (đối thoại) thì đã có sẵn rồi, con phải thuộc hết rồi. Nhưng cái feeling, cái cảm xúc của con phải như thế nào, đó là chuyện Hàm giúp con. Khuôn mặt con vẫn phải hướng về chồng con, đôi mắt con vẫn phải nhìn chồng con, nhưng bên tai con là tiếng nói của Hàm. Hàm phải nói câu chuyện cho con nghe. Hàm nói về chồng con hiện đang sống như thế nào trong trại tù, má chồng con ở nhà đang sống làm sao, con của con đang như thế nào... Con nghe Hàm nói và trí tưởng tượng của con chuyển biến theo, hình dung theo. Con vận động đầu óc con, tưởng tượng chuyện mình, rồi dần dần dùng cái feeling đó để diễn xuất. Con phải làm sao mỗi lời nói, mỗi cử chỉ đều diễn đạt với cảm xúc thích hợp với cảnh đó.
Hỏi: Có khi nào con cảm thấy thực sự “nhập” vào vai diễn?
Diễm Liên: Nhiều lắm, nhiều lắm, và không phải chỉ riêng con. Có khi đoạn phim đó chỉ có 30 seconds thôi. Mình đã diễn xong rồi, đạo diễn hô “Cut” rồi, nhưng mình vẫn không ngừng được cái cảm xúc đang trào dâng trong người mình. Diễn xong một cảnh 30 giây mà có khi con phải chạy ra chỗ khác, đi vòng vòng để khóc đến 15 phút nữa mới ngừng được. Ngay cả anh Long, cô Kiều Chinh cũng thế, hoặc cả cậu bé đóng vai con của con. Cậu bé đóng xong rồi phải vô giường nằm vật ra khóc một hồi mới tỉnh lại được. Thành ra tất cả những cảnh khóc như vậy đều là khóc thật. Cho nên con có thể nói với chú đây là “good movie” đó chú. Nhưng cứ phải chờ xem phim đã chú.
Hỏi: Nếu được mời con sẽ tiếp tục đóng phim khác?
Diễm Liên: Như con đã nói con chưa biết mình đóng ra sao nên chắc gì có ai mời con đóng phim khác nữa. Nhưng điều quan trọng là lúc đó con được làm việc với ai, với đạo diễn nào, và truyện phim ra sao. Đạo diễn quan trọng lắm, vì con là người không có “basic”, không có học hành gì về phim ảnh, về diễn xuất. Con thành thật nói với chú như vậy. Chẳng may con rơi vào tay một đạo diễn dở, con sẽ rất dở. Nên nếu cảm thấy không thích, không thể làm được, con sẽ không bận tâm chuyện đóng hay không, đó không phải “job” của con. Về phim mới đóng, con nghe đạo diễn nói các nhà đầu tư đều hài lòng.
Hỏi: Đóng phim tức là diễn như thật trong bối cảnh như thật. Chuyện thật của những người vợ tù thì khổ cực lắm. Chuyện thật của những người đi thăm nuôi tù cải tạo càng khổ muôn vàn. Con có phải chịu khổ cực như vậy không?
Diễm Liên: Có một cảnh con muốn kể chú nghe, đó là đoạn phim kể chuyện xẩy ra trong một khu rừng già. Con phải lội xuống sình ngập lên đến đây này (quá đầu gối). Con phải lội thật sự, phải thò tay xuống sình mò tìm một vật gì đó. Chú tưởng tượng trong cảnh đêm tối giữa rừng, con lội bì bõm như thiệt vậy đó. Con phải chống chỏi với nỗi sợ hãi, sợ hãi đêm tối, sợ hãi không biết dưới lớp bùn kia có con gì không, lỡ nó cắn chân con, lỡ nó rút con sâu xuống bùn thì sao, lỡ con đạp trúng mảnh chai, mảnh đạn thì sao. Sợ lắm chú ạ. Con cắn răng chịu đựng. Nhiều cảnh khổ kinh khủng con vẫn cắn răng cố gắng làm cho xong. Làm xong mỗi cảnh đó, bước ra ngoài con bật khóc. Khóc vì những gì mình phải chịu đựng, khóc vì không ngờ mình có thể làm được. Nhưng sau khi làm xong phim này con nghĩ tất cả những khổ cực đó rất đáng cho con chịu đựng, rất đáng để cho con phải cố gắng. Con nghĩ chỉ cần làm một phim thật đàng hoàng, đâu ra đó, con cũng hãnh diện về sau này. Con không mong trở thành tài tử hay gì khác, nhưng nếu phim này ra được mọi người chấp nhận là con vui rồi. Nhiều “challenge” lắm chú ạ, và rất đáng tham dự một lần trong đời.
Hỏi: Có khi nào muốn bỏ cuộc?
Diễm Liên: Con không dám nói là muốn bỏ cuộc hay không. Chỉ biết là rất nhiều lần frustrate. Có một cảnh mà đóng hoài không được cũng khiến bực mình và chán nản kinh khủng. Không phải mình con chán nản, bực mình. Chú tưởng tượng cả bọn lênh đênh trên thuyền giữa biển. Lớp say sóng, lớp ói mửa, mà một cảnh quay mãi không xong. Cả bọn nằm la liệt chịu trận trên chiếc thuyền chòng chành. Ngay cả Hàm, cả Lâm cũng nhiều khi bực mình lắm lắm. Nhưng sau một ngày mà công việc có kết quả, cả đoàn đều rất happy, những nỗi bực mình kia đều trở thành kỷ niệm.
Hỏi: Điều kiện làm việc tại Thái Lan thế nào? Ăn ở ra sao?
Diễm Liên: Chúng con làm việc tại hai địa phương thuộc vùng quê, xa Bangkok. Đoàn làm phim được ở trong khách sạn đàng hoàng, có xe đưa rước, còn ăn thì có người mang đến chỗ quay phim. Mỗi tuần lễ làm việc 6 ngày, chỉ nghỉ ngày Chủ Nhật, nhưng thường mọi người cũng không đi đâu ngày nghỉ đó. Mọi người ai cũng làm việc cật lực. Nhưng trời nóng và ẩm quá nên dễ mệt, còn về muỗi thì nhiều lắm. Đây con chỉ chú coi trên chân con còn đầy những dấu vết muỗi cắn. Đóng phim xong về đây thì con không được mặc áo đầm ngắn nữa, mà chưa biết bao giờ những dấu vết này mới biến đi hết. Chú thấy bây giờ con chỉ mặc đồ dài không à. Nhưng rất đáng để chịu những cảnh này. Những người con được làm việc chung thật tuyệt vời, con rất yêu mến họ, và càng thấy đáng trải qua kinh nghiệm những ngày vừa qua.
Hỏi: Con có vẽ bao giờ không?
Diễm Liên (hơi ngạc nhiên): Không ạ.
Hỏi: Bởi vì con đã nói hai điều là ca hát và đóng phim con không hề suy nghĩ sẽ làm. Vậy mà con đã là ca sĩ chuyên nghiệp, con cũng đã đóng vai chính trong một cuộn phim, nên chú định hỏi còn điều thứ ba nào con không hề học, không hề dự định, mà vẫn trở thành nghề nghiệp không?
Diễm Liên: Nếu thế thì đó là chuyện thay tã cho em bé. Con chẳng học gì nhưng vẫn phải thay tã cho con của con mỗi ngày. Năm nay nó được 4 tuổi, con trai, tên Việt Nam là Minh.
Quí vị mới nghe qua chuyện Diễm Liên đóng phim. Thực sự cuốn phim đã là một tác phẩm văn học nghệ thuật lớn nói về một giai đọan lịch sử của đất nước ta, với một cách trình bày đầy vẻ tích cực, tin tưởng vào tương lai. Mong quí vị đón xem. (Tháng 12, 2004)

Diễm Liên: Niềm Ước Mơ Nuôi Dưỡng Dòng Nhạc Trữ Tình, Lãng Mạn


Đỗ Tăng Bí

Hình Vũ Đình Trọng, Nguyễn Ngân, ĐVA

Một anh bạn tôi có niềm mơ ước kỳ thú là nếu trúng số (trên mười triệu đồng), anh sẽ bỏ ra từ 500 ngàn đến 1 triệu đô la thành lập một ban hợp ca gồm những người trẻ để trình diễn hai trường ca “Con Đường Cái Quan” và “Mẹ Việt Nam” của Phạm Duy. Anh sẽ đưa ban hợp ca này cùng dàn nhạc đi lưu diễn khắp những nơi có người Việt Nam tại hải ngoại. Và trong số những người hát trẻ anh sẽ đề nghị Diễm Liên hát ở vị trí Thái Thanh trước đây mấy chục năm.
Quả thực Diễm Liên có một giọng hát đẹp, thật nồng nàn, đam mê, say đắm nhưng cũng rất trẻ trung vui nhộn. Cái nồng nàn, đam mê, say đắm đó chưa thể bằng Thái Thanh, có lẽ vì thế hệ những người trẻ Việt Nam tại hải ngoại không hề được sống, được đắm mình trong không khí lãng mạn trữ tình nhưng cũng đầy cay đắng chiến tranh của nền thi ca, âm nhạc, hội họa Việt Nam trước 1975. Họ không được sống, được trải qua những tình cảm của những “Con đường Duy Tân, cây dài bóng mát..” của những “Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt...” Đôi “môi em” đó chỉ là những ước mơ, tưởng tượng. Thế hệ trẻ hồi đó đâu có dám ôm nhau, hôn nhau dễ dàng, tự nhiên ngay giữa chốn đông người, giữa ban ngày ban mặt như những người trẻ hôm nay. Cũng có thể cái nồng nàn, đam mê, say đắm đó chưa bằng Thái Thanh vì chưa “yêu tiếng nước tôi” nhiều như Thái Thanh đã yêu. Diễm Liên thiếu những kinh nghiệm cảm xúc đó nhưng bù lại cô có một sự thông minh, tinh tế về cảm nhận cái hồn của bài nhạc, và cô hát với nỗi khát khao được hát.
Diễm Liên ra đời tại Đà Lạt và ở đó cho đến khi rời Việt Nam vào năm 1990. Khi có giấy tờ rồi cô mới xuống Sài Gòn ở một tuần để chờ ngày đi. Thuở nhỏ cô đã thích hát và hay hát ở trường học, chỉ khi qua Mỹ mới đi hát chuyên nghiệp. Trước khi đi Mỹ cô có hát ở vài club tại Đà Lạt, “nhưng không nhiều vì tuổi còn nhỏ, gia đình đâu có cho đi hát. Lúc đó chắc con chừng 17, 18 tuổi gì đó, mà cũng chỉ hát chừng một tháng thôi.” Trong câu chuyện chúng tôi biết Diễm Liên rất ít được gần gũi giới báo chí, truyền thông Việt Ngữ. Do nhà cô ở xa khu trung tâm Little Sài Gòn, ngoài khu vực Quận Cam, ít có cơ hội đọc báo, nghe đài. Một yếu tố nữa là tuy mang tiếng người ở Miền Nam California nhưng cô ít trình diễn tại đây mà hay đi hát các tiểu bang khác.
Diễm Liên đã có gia đình, chồng trong quân đội, có cậu con trai mới 4 tuổi. Nghe hỏi về chuyện cô phải vắng nhà luôn luôn để đi hát thì “chàng ta” có buồn không, cô trả lời:
Diễm Liên: Con thường phải đi hát ở các tiểu bang khác vào mỗi weekend. Mạnh con con đi, mạnh chồng chồng đi. Anh ấy còn đi nhiều hơn con vì ở trong Thủy Quân Lục Chiến mà. Thành thử ra chuyện đi xa nhà rồi cũng quen.
Chúng tôi nói chuyện cùng Diễm Liên tại toà soạn Người Việt trong vòng một tiếng đồng hồ. Cô là một ca sĩ vào nghề bằng những chương trình nhạc trẻ trung vui nhộn. Nhưng gần đây cô xuất hiện nhiều và thành công tại những buổi hát thính phòng nên câu chuyện xoay quanh sự thay đổi này, và về chuyện cô được mời giữ một trong mấy vai chính cuốn phim do Đạo Diễn Hàm Trần thực hiện ở Thái Lan. Dưới đây là một phần câu chuyện với Diễm Liên. Trả lời câu hỏi cô thích nghe ai hát, cô nói:
Diễm Liên: Về phía Mỹ con thích nghe Céline Dion, Barbarra. Phía Việt Nam, ngoài những cây đại thụ mà ai cũng biết, ở ngoài này con thích nhất chị Khánh Hà và anh Tuấn Ngọc, trong nước con thích Thanh Lam, Mỹ Linh và Trần Thu Hà.
Hỏi: Đầu Tháng 12, trong buổi “Nhạc Tình Phạm Duy” ở Majestic, con hát chung với Nguyên Khang. Con thích giọng Nguyên Khang? Với lớp cùng lứa tuổi, con thích ai?
Diễm Liên: Khang mới hát sau này nhưng đối với con đó là một giọng tốt. Chắc chú phải công nhận với con là gần đây xuất hiện rất nhiều ca sĩ, nhưng tìm những người thích hát những bài nhạc xưa cũ, như của bác Phạm Duy, Phạm Đình Chương chẳng hạn, thì rất ít. Khang hợp với con ở điểm đó. Nhạc phong trào thì nhiều ca sĩ nhưng nhạc xưa thì càng ngày càng hiếm người trong lớp trẻ muốn hát. Thực ra hồi xưa, khi còn trẻ, thì miễn được hát là con vui rồi, không chọn lựa bài hát. Khi lớn lớn rồi, sau hơn 10 năm trong nghề, con suy nghĩ khác hơn. Con bắt đầu hát từ năm 1992, bây giờ là 12 năm rồi. Thời gian qua mau không ngờ. Những chị như chị Ý Lan, Khánh Hà là lớp đàn chị, con không dám nói tới, nhưng trong lớp sàn sàn tuổi với con, con thích nhất Thanh Hà và một cô mới gần đây là Ngọc Hạ. Ngọc Hạ là một giọng ca mới mà con rất respect, còn ít tuổi nhưng đã chọn lựa những bài thật hay, thật khó của bác Phạm Duy... Con cũng mong xuất hiện thêm nhiều giọng ca nữa hát loại nhạc xưa vì càng đông càng vui, nhất là có sự đua tranh để phải cố gắng nhiều hơn.
Hỏi: Chú nhận thấy con hay chọn lựa những bài tiết tấu rất khó như mấy bài của Phạm Duy, tại sao?
Diễm Liên: Vâng, bác Phạm Duy có nhiều bài khó, nhng khi mình hát như vậy thì như là mình challenge. “I love challenge.” Con thích những bài khó. Có thể là lần đầu mình hát chưa hay, nhưng đến lần thứ hai, thứ ba thì thật thoải mái khi hát.
Hỏi: Con hát những bài nhạc xưa cũ rất có hồn, con hiểu được bài nhạc, cảm được những điều tác giả muốn diễn đạt, như khi con hát những bài của Phạm Duy chẳng hạn, nhưng đôi khi chú thấy như thiếu một chút đam mê. Có phải có những lần hát con đã kiềm giữ sự đam mê đó? Hay là vì số khán giả đông hay vắng?
Diễm Liên: Thực ra sự trình diễn một bài hát tùy thuộc vào nhiều yếu tố của từng buổi hát, tùy theo cái mood của mỗi đêm. Số khán giả ít hay nhiều không ảnh hưởng đến con. Chuyện trình diễn của con còn tuỳ thuộc ban nhạc và người giới thiệu. Cái mood của ban nhạc hôm đó tốt, họ chơi rất hay, thì thuận tiện cho con. Gặp lúc ban nhạc chưa hào hứng, con bị chia trí, cách diễn đạt của mình cũng bị ảnh hưởng. Đôi khi con bị văng ra ngoài cái hồn bài hát là vì vậy. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của con. Con cần sự giúp đỡ của ban nhạc. Nhưng lúc nào con cũng cố gắng hết mình. “I always do my best!” Trước mỗi buổi trình diễn thường tụi con đều có tập. Nhưng khi ở trên sân khấu, nếu ban nhạc chơi thật hào hứng thì mới tuyệt vời được. Nhớ lại một hôm con hát ở La Mirada, cũng hát bài “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” của Phạm Duy, chỉ mình Vương Hương đệm dương cầm cho con, nhưng hôm đó đúng là “the best.”
Hồi Tháng Ba năm 2003, Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) đã tổ chức một buổi nhạc thính phòng tại La Mirada Theatre với chủ đề “Tự Tình Khúc”, gồm những bản tình ca lãng mạn, nồng nàn của nhiều thập niên, theo lời giới thiệu của Hội. Hôm đó Diễm Liên hát 4 bài, đặc biệt xuất thần trong bài “Kiếp Nào Có Yêu Nhau”. Theo lời kể của một MC hôm đó, sau khi nghe Diễm Liên trình diễn thật suất sắc bài nhạc khó hát này, nhạc sĩ Phạm Duy đã tháo chiếc tie đang đeo xuống định lên tặng Diễm Liên, nhưng cô đã lui vào hậu trường.
Một anh bạn trẻ kể chuyện hồi còn ở Sài Gòn, năm 1994, 95 được nghe một giọng hát độc đáo qua băng cassette trình bày thật tuyệt vời mấy bài nhạc Trịnh Công Sơn, hỏi giọng hát ai, cô hàng cà phê xinh xắn ngạc nhiên hỏi lại: “Anh không biết tiếng hát Diễm Liên thật sao?” Diễm Liên thuộc những ca sĩ hàng đầu trong lớp ca sĩ trẻ ở hải ngoại. Diễm Liên là một trong số rất hiếm hoi những ca sĩ trẻ tham dự vào hàng ngũ những người hát thính phòng. Với một phong cách rất tự tin, cô biểu lộ sự thông minh đặc biệt trong việc cảm nhận những tác phẩm của các nhạc sĩ lớp cũ, cô cảm được hồn bài nhạc và trình diễn với tất cả cảm xúc đó. Đó là một điều thật bất ngờ. Chúng ta tưởng tượng một thiếu nữ trong bộ trang phục rất “hot”, mỗi lần sôi nổi trình diễn một bài nhạc (điệu disco) chẳng hạn là làm lớp khán giả trẻ náo loạn. Cũng cô gái đo,ù với trang phục đó, với tất cả vẻ duyên dáng của một thiếu nữ xinh đẹp, đã trình diễn thật điêu luyện những ca khúc tình cảm lãng mạn nhẹ nhàng hay thống thiết. Cô có một giọng hát thật sâu, thật mạnh, thật vững vàng ở từng tiết tấu. Bài hát càng nhiều tiết tấu phức tạp càng là thử thách mà cô muốn vượt qua. Trả lời cho câu khen tặng rằng cô còn “lên” nữa, cô nói:
Diễm Liên: Con nói rất thật tình rằng không bao giờ con nghĩ con sẽ “lên” hay cái gì khác. “I just sing out of my heart!” Con thích hát thì con hát. Mỗi lần ở trên sàn diễn là một lần con vui. Và điều quan trọng hơn nữa là làm sao có được những người tiếp tục hát những bài hát ngày xưa. Thành thử khi nói về Nguyên Khang chẳng hạn. Bây giờ Nguyên Khang chưa thể bằng anh Tuấn Ngọc. Nhưng con restpect giọng ca đó bởi vì đây là tầng lớp mới khả dĩ có thể thay thế đàn anh đàn chị trong việc nuôi dưỡng dòng nhạc một thời rất đẹp của chúng ta. Nếu không có những người như Nguyên Khang, Ngọc Hạ thì mai sau ai sẽ hát những bài nhạc bất hủ ngày xưa. Đó cũng có thể là lý do con hay hát song ca chung với Nguyên Khang, cũng có thể vì khán thính giả thường yêu cầu con hát chung với Khang hơn là với người khác, qua số lượng những e-mail con nhận được. Nhưng con rất thích hát chung với anh Tuấn Ngọc.
Diễm Liên vắng mặt một thời gian và khi trở lại cô bỗng nhiên thành một giọng ca khác hẳn, vững vàng, tự tin. Cô vẫn khẳng định rằng cô vắng mặt không phải để học về nhạc. Cô không biết gì về nhạc. Thời gian cô lớn lên thì thân phụ đi tù (cải tạo), cô không có cơ hội học nhạc. Thân phụ Diễm Liên là nhà báo Đinh Lang, cũng phục vụ trong quân đội và bị 13 năm tù. Trời cho cô một đôi tai thẩm âm tinh tế, chính xác. Trời cho cô một tâm hồn yêu những dòng nhạc trữ tình sâu sắc ngày xưa. Trả lời câu hỏi tại sao khi trở lại sau khi vắng mặt ít lâu cô đã như người lột xác, cô nói:
Diễm Liên: Bản thân con cũng ngạc nhiên về sự thay đổi của con. Theo kiểu Việt Nam mình ở đây, mỗi ca sĩ đều phải “keep it up”. Nếu mình vắng mặt một thời gian là “it’s gone!” Vắng mặt thì khán thính giả sẽ quên mất mình. Nhưng may mắn cho con là khi trở lại thì cũng là lúc nhạc thính phòng cũng hơi thịnh lại. Lần đầu tiên con được hát thính phòng là do Hội Nghệ Thuật Âm Nhạc của nhóm anh Thomas Ngô với chị Thơ, anh Hoàng Thi Thao. Hội đó thường không thích mời những ca sĩ như tụi con, họ chỉ muốn mời những ca sĩ như cô Thái Thanh, chị Ý Lan, anh Tuấn Ngọc... Họ chưa hề dám thử dùng những ca sĩ như con. Một ngày nào đó tự nhiên con được gọi. Con rất ngạc nhiên, hỏi lại: “Thính phòng?” Sao mà gọi cháu? Lúc đó cháu cũng không hề nghĩ là sau này sẽ hát nhạc thính phòng nữa. Cuối cùng người ta giao cho con một bài trong buổi trình diễn của Hội. Chỉ một bài thôi, có lẽ để thử lửa, hoặc là nếu con hát hỏng thì cũng không đến nỗi làm mất mặt Hội vì mỗi năm người ta tổ chức một lần, một buổi rất lớn với dàn nhạc mấy chục người. Sau đó thì con rất là “like it!” Sau này khi được họ gọi lại, con được giao thêm bài. Con cho rằng chắc con có prove được cái gì đó họ mới gọi lại và cho nhiều bài hơn. Từ đó con mới bắt đầu hát thính phòng nhiều. Ngay cả những đêm thính phòng bỏ túi con cũng thích được hát ở đó vì khán thính giả những buổi đó thực sự muốn được nghe hát chứ không phải đến để ngồi chơi cho qua thì giờ...
Hỏi: Giả dụ con làm riêng một show hát luôn mười mấy bài thì có mệt không?
Diễm Liên: Chắc là có mệt chứ chú. Nhưng con có thể làm được. Tuy nhiên cái dở của con là không nói chuyện được nhiều khi đứng trên sân khấu. Con không thể nói lung tung đủ thứ được, con không muốn bắt khán giả nghe những điều nhàm chán để mua thì giờ. Thường con chỉ giới thiệu bài hát, tác giả bài hát, rồi con cố gắng hát thật hay cho khán giả nghe. Thực sự nếu cần đối đáp với các bạn đồng diễn, với người giới thiệu thì con nói được, nhưng dựng lên một câu chuyện nào đó để nói cho khán giả nghe thì con không làm được. Con không thích “fake”.
Diễm Liên qua Mỹ năm 1990, đến năm 1992 bắt đầu đi hát. Cô kể lại chuyện “tình cờ bước vào đời ca hát” như sau:
Diểm Liên: Hồi đó con được gặp nhạc sĩ Tùng Giang. Tùng Giang biết con có ca hát đại khái ở Đà Lạt, nên một hôm tình cờ đi Ritz, Tùng Giang nói con lên hát chơi một bài. Lúc đó chú Ngọc Chánh còn ở đó. Chú ưng ý và nói con hát cho club của chú. Khi con hát ở đó những nhà sản xuất vidéo đến nghe và mời con làm việc với họ. Con làm việc với Hollywood Night, sau đến trung tâm Thúy Nga, hiện nay con làm cho trung tâm Asia, cho trung tâm Vân Sơn, cho trung tâm Tình. Con không làm độc quyền cho trung tâm nào cả. Thực ra không bao giờ con nghĩ trở thành ca sĩ. Cho đến giờ phút này con vẫn không suy nghĩ như mình là ca sĩ. Con chỉ biết con có thể hát được. Ý con muốn nói là người ta thường nghĩ ca sĩ là một mẫu người khác, còn con không bao giờ nghĩ con có gì khác mọi người. Ngay cả hồi nãy chú nói con là đẹp, chính con không bao giờ nghĩ con đẹp hơn ai cả, bởi vì trong gia đình 5 chị em, con thuộc loại không đẹp. Con quen suy nghĩ như vậy, không quen suy nghĩ là con đẹp., thực sự tự trong lòng con như vậy.
Diễm Liên là một giọng ca quí, rất đáng trân trọng trong giới những người hát trẻ. Cô sẽ tiếp tục là giọng ca quí sau này trong giới những người nuôi dưỡng dòng nhạc trữ tình lãng mạn của bao thập niên qua. Tôi xin chia sẻ với anh bạn tôi niềm mơ ước được nghe Diễm Liên, một ngày nào đó, thay thế Thái Thanh trong những trường ca của Phạm Duy, Phạm Đình Chương...

Friday, January 16, 2009

Thơ Phổ Nhạc

Ý kiến của Phú Quang, Nguyễn Đạt, Lê Thị Kim

Đỗ Tăng Bí ghi

11 giờ sáng một ngày cuôi tháng Tư, 2002, tôi cùng Nguyễn Đạt, Lê Thị Kim đến quán Catinat của Phú Quang, nằm trên đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Tối hôm qua tôi gặp một nhà thơ “điên điên” ở đây, thi sĩ Sao Trên Rừng – Nguyễn Đức Sơn, được biết quán này của nhạc sĩ Phú Quang, nên tự hẹn sáng nay sẽ đến gặp và phỏng vấn tác giả bài hát về Hà Nội tôi yêu vô cùng “Im Lặng Đêm Hà Nội”. Nhưng rồi chuyện phỏng vấn không thành vì cuộc thảo luận bất ngờ về thơ phổ nhạc do một câu Nguyễn Đạt hỏi Phú Quang khi vừa mới ngồi xuống ghế. Lát nữa đây tôi ghi lại những câu hỏi có vẻ hơi mạnh mẽ của Ng. Đạt và phần trả lời khá điềm tĩnh của Phú Quang.
Trước hết phải nói anh Nguyễn Đạt đi với tôi hôm đó không phải thi sĩ và nhà văn Lê Đạt của vụ án Nhân Văn Giai Phẩm trước đây. Cụ Lê Đạt hiện đang sống ở Hà Nội với tuổi gần 80, và nhà xuất bản Tuổi Xanh ở California cách đây mấy năm có in tác phẩm “Hèn Đại Nhân” của cụ. Còn anh bạn tôi, Nguyễn Đạt, cũng là một nhà thơ và văn. Trước năm 1975 anh đã xuất bản một tập thơ, truyện của anh cũng xuất hiện trên một số tạp chí văn học thời đó. Những năm gần đây, thơ và truyện anh đăng tải trên một số tờ báo hải ngoại như Thế Kỷ 21, Việt Mercury, Người Việt. Nhật báo Người Việt cũng đã chạy 3 truyện dài của anh trong 3 năm qua. Hiện anh cư ngụ tại Sài Gòn, và hầu như chỉ sống nhờ chút tiền nhuận bút ít ỏi của báo chí hải ngoại vì báo chí trong nước từ chối đăng truyện và thơ của anh.
Lê thị Kim là thi sĩ có tiếng trong nước. Người đọc biết đến cô nhiều kể từ sau 1975. Cô đã xuất bản riêng và chung nhiều tập thơ. Cô còn là hoạ sỹ. Đã triển lãm nhiều lần ở Hà Nội, Sài Gòn, và năm ngoái, 2002, cô có qua Mỹ tham gia cuộc triển lãm của các hoạ sỹ Á Châu. Cô là một nhà khoa học nhưng đã bỏ lãnh vực này sau hơn 20 năm làm việc với điều kiện sống quá bần hàn.
Ba đứa chúng tôi rủ nhau đến quán Phú Quang. Đạt vì chiều người ở xa về nên chịu đi theo. Thường Đạt thích ngồi quán cóc trên các vỉa hè Sài Gòn, nơi có thể ngồi chửi thiên hạ cùng Nguyễn Đức Sơn, T. T Kiệt, Ng. T Hoàng,... Có lẽ vì gượng ép mà đi như vậy nên vừa ngồi xuống với Phú Quang, Đạt phang ngay một câu:
Ng. Đạt – Anh Phú Quang này, tại sao nhạc sĩ các anh lại cứ lấy thơ của người khác mà phổ nhạc. Như thế bài nhạc đâu còn có thể gọi là của anh nữa.
Dĩ nhiên là Phú Quang ngỡ ngàng, vì hồi nãy lúc bắt tay làm quen, tôi có nói ý định phỏng vấn anh, nhưng không nói sẽ phỏng vấn kiểu đốp chát như vậy.
PQ – Anh nói thế thì cũng hơi... Thực ra mà nói, lời của một bài hát hay giá trị không kém gì nhạc hay. Để có thể viết lời hay cho một bài hát người nhạc sĩ cũng cần công phu và sự rung động không kém gì khi viết phần nhạc. Thay vì tôi viết được 10 bài nhạc, nếu tôi viết cả phần lời, thì tôi chỉ viết được 5, 6 bài là cùng. Vậy thì việc sáng tác ra lời, việc trình bày những hình ảnh, sự rung động, tư tưởng, và tình yêu bằng lời, bằng ngôn ngữ nói và viết là việc của những nhà thơ, nhà văn. Tại sao nhà thơ lại không thể cho nhạc sĩ dùng những sáng tác đó phô diễn cho dòng nhạc. Giả dụ một nhạc sĩ sáng tác luôn lời, nhưng lời của họ tệ quá, có phải là làm phiền lòng người nghe không, nhiều khi là tra tấn người nghe. Chúng ta cứ để ý lời các bài ca Việt Nam mà coi. Chỉ trừ một vài người mà lời của họ gần như là thơ, như Trịnh Công Sơn chẳng hạn, ông ta nửa thơ nửa nhạc, ông ta là nửa vời, nhạc nửa vời, lời nửa vời, còn thì nhiều bài hát có lời do chính người nhạc sĩ viết, nghe nó buồn cười không thể tưởng tưởng được. Được cái âm nhạc có cái lợi thế là nó cho phép người nghe có thể bỏ qua những cái ngớ ngẩn, những cái buồn cười của lời. Cũng lời đó nếu viết riêng ra thì khủng khiếp, nhưng nếu hát trong khuôn khổ dòng nhạc nào đó, người ta dễ chấp nhận hơn. Thí dụ có một ông nhạc sĩ , ông này đã quá cố rồi nhưng tôi cứ xin phép mà dẫn ra đây vì chợt nhớ đến lời viết như thế này: “kể từ ngày anh đi, nước đủ, phân gio nhiều,...” Tưởng tượng lời đó viết ra giấy gọi là bài thơ thì khủng khiếp đến thế nào. Thế nhưng khi hát lên, người ta bớt thấy chướng hơn. Một ông khác viết lời thế này “... ra thép, ra gang, ôi lò lửa sáng hiên ngang,...” chẳng ra cái gì cả, vậy mà hát lên người ta không để ý, chả thấy sao cả. Những lời đó mà bà Kim cho in thành tập thơ thì mọi người cười được cả năm đấy. Vậy thì người làm nhạc và người làm thơ chỉ là sự phân công, là có tính chuyên nghiệp hoá. Hãy cứ tưởng tượng một ông khoe rằng một mình tôi làm được cả cái xe đạp này, chẳng phải mua cái gì cả. Trước hết xe ông ấy làm có tốt không, có bền không, thứ đến ông ta mất bao nhiều năm để làm cái xe đó, và ông ta tốn bao nhiêu tiền. Suốt thời gian ông làm xe thì gia đình ông sống bằng gì, ông ta sống bằng gì. Nếu ông ta chịu đi làm việc theo ngành chuyên môn của ông trong suốt thời gian đó, có lẽ ông ta mua được hàng chục cái xe, ông ta được đi xe tốt, gia đình ông sống thoải mái hơn, xã hội có phần đóng góp hữu ích của ông ấy.
Ng. Đạt – Nhưng thưa anh Phú Quang, dù anh cho một bài thơ nào đó là hay, anh mượn ca từ của nó, nhưng theo tôi, ca từ đó khi vô trong nhạc thì nó khác, nó sẽ không còn hay như khi nó ở bài thơ,...
L.T Kim – Tại sao, chưa chắc,...
PQ. – Tôi cho rằng nếu nó không còn hay như vậy thì chỉ vì tài nghệ của người nhạc sĩ kém.
Ng. Đạt – Tôi cho rằng nhà thơ và nhạc sĩ là hai người hoàn toàn biệt lập, độc lập với nhau (và như thế không thể có chung đụng nhau được).
P.Q. – Tôi xin góp ý với anh Đạt thế này: Chuyện giao hoà trong nghệ thuật bây giờ là điều rất bình thường. Anh là một nhà thơ, nếu anh hiểu âm nhạc thì thơ anh có nhạc điệu, nếu anh hiểu hội hoạ thì trong thơ anh có màu sắc hơn, nếu anh yêu điện ảnh thì thơ anh sẽ sống động, có cảnh sắc biến chuyển hơn. Người nhạc sĩ cũng vậy, yêu thơ, yêu nhạc thì trong nhạc có cả chất thơ lẫn chất hoạ,...
Ng. Đạt – Thế như đó không phải lý do để cho anh cần phải mượn thơ người khác.
P.Q. – Đấy không phải là mượn. Anh nhầm ở chỗ này. Khi tôi phổ nhạc một bài thơ của anh, không phải là tôi mượn thơ anh. Đó chính là vì khi đọc bài thơ tôi đồng cảm được với anh. Đành rằng lấy thơ anh chuyển thành bài hát thì dễ hơn tôi tự viết lời, nhưng nó khó ở chỗ khác. Trước kết tôi phải hiểu được thơ anh, phải rung động được với cái khiến anh rung động, sau đó phải chuyển hoá cái rung động đó thành nỗi rung động của tôi, nên tưởng rằng dễ hơn nhưng thực sự thì phần sáng tác nhạc sẽ khó hơn. Nếu người nhạc sĩ khi đọc một bài thơ không có cái rung động của nhà thơ, không hiểu được những gì nhà thơ muốn chuyên chở, không đồng cảm được với nhà thơ, thì chắc chắn chuyện phổ thơ đó, chuyện dẫn ý thơ sẽ đưa đến kết quả tồi tệ vô cùng. Điều quan trọng trong đời sống thực tế là người nhạc sĩ đừng quên mất nhà thơ. Riêng cá nhân tôi, dù chỉ lấy một câu thơ, một ý thơ, tôi vẫn để tên nhà thơ trong bài nhạc của tôi. Đây không phải chuyện nịnh các nhà thơ, nhưng tôi cho rằng nếu không có câu thơ đó, không có ý thơ đó, thì không có bài hát đó. Thí dụ chỉ vì có một câu thơ duy nhất mà tơi làm bài “Hà Nội Ngày Trở Về”. Chỉ một câu duy nhất này “... vội vã trở về, vội vã ra đi,...”. Quả thực suốt bài hát tôi chỉ lầy đúng mấy chữ đó, còn lại tất cả lời là của tôi, nhưng tôi vẫn đề lời đó của Thanh Tùng. Hoặc một bài khác “... Vì Đâu Hà Nội” cũng chỉ vì một câu duy nhất “Heo May Ta Về Có Giấc Mơ Xưa”, câu thơ của Tạ Văn Chương, tôi vẫn đề lời Tạ Văn Chương dù toàn bộ phần còn lại là lời của tôi. Trở lại với “Vội vã trở về, vội vã ra đi”, quả thực mỗi lần tôi trở về Hà Nội đều vội vã. Từ đấy mới có những câu như “Hà Nội ơi mỗi khi....xác xơ tôi vội vã trở về ... cho mình dù chỉ là chiếc bóng đêm trên đường phố quen... Tôi bồi hồi khi chạm bóng cửa ô như ngày xưa mỗi lần chạm vai người..., như dòng sông Hồng cuộn đỏ....,” , rồi sau đó mới “vội vã trở về, vội vã ra đi...” Nhưng anh thấy không, nếu không có mấy chữ đó, không có cả bài hát đó. Ngay ông Thanh Tùng nhiều khi cũng nói tôi: “Mày chỉ lấy có mỗi một câu của tao mà mày cũng để tên, cũng đưa tiền.” Cho nên một ngày nào đó, anh Đạt ạ, có thể Quang sẽ làm một bài nhạc xuất phát từ ý thơ của anh, có thể lời bài hát sẽ không giống với lời thơ anh, nhưng Quang vẫn phải ghi lấy từ ý thơ anh Đạt. anh Đạt có đồng ý rằng đôi khi chỉ vì một câu nói nào đấy mà anh về bật ra một bài thơ hay. Bài thơ vẫn là của anh, nhưng xét cho cùng nếu không có câu nói đó thì không có bài thơ đó...
Ng. Đạt – Tôi chỉ mong rằng các ông nhạc sĩ hãy bật ra từ ý nhạc của mình chứ không cần bật ra từ bất cứ cái gì khác.
P.Q. – Nếu thế thì làm gì có ca khúc. Anh có gọi Shubert là nhạc sĩ không. Thế giới gọi Shubert là ông hoàng của ca khúc, nhưng không một lời bài nhạc nào của Shubert. Lời các ca khúc của ông ấy đều lấy từ các nhà thơ cùng thời. Không ai có thể vì thế nói Shubert không phải là nhạc sĩ. Chỉ những kẻ dốt nát lắm mới khjông gọi ông ta là nhạc sĩ. Ông ấy là một nhạc sĩ thiên tài. Ở đất nước mình với nền văn minh nông nghiệp, người ta tưởng rằng phải viết lầy lời mới được gọi là nhạc sĩ tài năng. Thí dụ nếu anh tự hào là tập thơ của anh là do anh “in lấy”, thì cũng là giỏi đấy, nhưng chẳng hay ho gì, bởi vì những người không in lấy được thơ đâu có phải vì thế mà thơ kém anh. Việc của anh là làm thơ cho hay chứ không phải việc anh in cho đẹp hay không đẹp...
L.T. Kim – Tôi đồng ý với anh Phú Quang. Ở đất Sài Gòn này có thời người ta sáng tác nhạc từ một bài thơ, lấy thơ phổ nhạc, đến khi gây đụng chạm, nên sau đó nhạc sĩ phải tự viết lời, và thường là lời không ra sao cả. Tôi đồng ý với Phú Quang là mỗi người một việc, nên ông ấy không hề mắc cở về cái chuyện phải mượn lời của nhà thơ bởi vì công việc của nhà thơ là sản xuất ra những lời như vậy. Theo tôi, người nhạc sĩ nếu có sẵn lời của một bài thơ như vậy đã mua được rất nhiều thời gian mà ca khúc lại có lời hay. Thực ra, theo tôi, nhạc Phú Quang rất hay, nhiều lời do Phú Quang viết rất hay, rất hợp với “dòng nhạc sang”, theo cách nói hiện nay. Tôi đồng ý với Phú Quang ở chỗ là khi gặp một bài thơ hay, anh Quang có thể tự hỏi “làm sao tôi có thể viết được lời hay như vậy, mà tôi lại có sự đồng cảm, có những cảm xúc như trong bài thơ, vậy tại sao tôi không dùng luôn lời của bài thơ đó”. Tôi nghĩ rằng khi đó người nhạc sĩ lấy lời của một bài thơ cũng là một thái độ khiêm nhường để bày tỏ rằng tôi cũng cảm xúc như thế mà tôi không viết được như nhà thơ.

Khách vào quán ăn trưa đã đông, Phú Quang bận rộn với bạn bè, khách quen khách lạ. Không khí “góp ý” còn hào hứng nhưng tôi đành xin kết thúc buổi thảo luận bất ngờ này, và hẹn Phú Quang ngày mai gặp lại.

Phỏng vấn Phú Quang

Đỗ Tăng Bí ghi.

Tôi đến gặp nhạc sĩ Phú Quang tại quán của anh trên đường Nguyễn Huệ, quán Catint, lúc 10 giờ rưỡi sáng một ngày cuối Tháng Tư, 2002. (Bây giờ, nghe nói quán này đã đổi chủ.) Nếu quí vị muốn ăn một bữa đặc Bắc Kỳ với đầy đủ canh mùng tơi, cà pháo, ... xin hãy đến quán Catinat. Ở đây, suốt ngày quây quần những văn nghệ sĩ quen thuộc, bạn hữu, và thính giả hâm mộ Phú Quang, khởi đầu từ ly cà phê buổi sáng cho đến ly rượu về khuya. Buổi tối thường có trình diễn nhạc sống, và đôi khi chủ quán hứng chí, sẽ lên tặng quí vị vài bài hát như một lời cảm ơn những người yêu nhạc Phú Quang.
Mở đầu buổi gặp gỡ, Phú Quang tặng tôi một album mới nhất của anh..... . Đó là một album làm khá công phu. Toàn bộ là một tác phẩm nghệ thuật, kể cả tập nhạc in kèm như một công trình hội hoạ. Ở Việt Nam, mỗi năm xuất hiện cả ngàn CD nhạc mới của các nhạc sĩ, ca sĩ. Nhưng làm công phu như một album ngoại quốc thì rất hiếm. Tôi chỉ thấy album của Phú Quang và của Thanh Lam có được tiêu chuẩn đó. Album mới nhất của Thanh Lam là album “Mây Trắng Bay Về” phải mất hơn hai năm mới làm xong, và phải nhờ nhiều dàn hợp xướng nhạc viện, và bộ phận âm nhạc của đại công ty Warner hỗ trợ. Thường thì phải mất một hay hai năm Thanh Lam mới làm nổi một album, một nhịp độ sản xuất bình thường ở Mỹ.
Phú Quang cho biết để làm được album “Về Lại Phố Xưa”, anh phải chi ra 200 triệu, nhưng “cho đến hôm nay, gần hai tháng sau khi phát hành, em đã thu gần đủ vốn”. Phú Quang phải bỏ nhiều tiền như vậy để làm album thật công phu vì “để người ta khỏi hát sai nhạc mình nên trong này có bản nhạc, thứ đến vì mình cũng có vài điều muốn nói để thính giả gần gũi mình hơn, khi nghe nhạc mình dễ cảm thông hơn...”
Từ một lời giải thích như vậy, tôi đã đưa Phú Quang vào cuộc phỏng vấn:
ĐTB – Nhân dịp anh nói để người ta không hát sai nhạc mình, tôi nhớ lại có lần anh nói có thể bắt được cảm hứng sáng tác từ một câu thơ, bắt được hình ảnh gây cảm hứng từ một bài thơ, rồi anh khai triển thành bài nhạc của anh, vậy thì anh quan niệm “hát sai” là thế nào, còn trường hợp người ca sĩ cũng muốn đóng góp phần cảm hứng khi trình diễn nhạc anh?
PQ. – Sai ở đây là sai cả lời, sai cả nốt nhạc. Nhưng nếu người ta có thay đổi đi thì nó làm ... Thực ra trong số các nhạc sĩ thì em là dân “pro”, dân chuyên nghiệp. Em đã học nhạc 17 năm. Ở Việt Nam có những chữ chỉ những người viết bài hát, như anh thấy trong tiếng Pháp người ta không gọi những người đó là nhạc sĩ, nhạc sĩ là “compositeur”, còn người viết bài hát chỉ gọi là “tác giả ca khúc”, có thể là “l’auteur de chanson” chẳng hạn. Đó chỉ là những người viết bài hát. Thực ra để viết bài hát thì không cần biết nhạc. Bài hát nổi tiếng nhất thế giới là “Marseillaise” của một ông trung uý công binh chẳng biết nhạc là gì cả.
ĐTB. – Như thế viết ca khúc không cần công phu nhiều.
PQ. – Viết ca khúc không phải là dễ. Viết được một ca khúc hay rất là khó, nhiều khi còn hay hơn cả nhạc giao hưởng viết dở. Thế nhưng người ta không gọi là nhạc sĩ. Ở (nước) mình, chức danh thường bị xưng nhầm. Thí dụ ngày xưa ở Việt Nam mình có những ông dạy học cấp một cũng tự gọi là giáo sư cấp một. Giáo sư thì không dạy cấp một, người ta phải dạy đại học mới gọi là giáo sư được. Đó là “professeur”, chứ không phải “maitre” là thầy dạy cấp một. Nhưng như thế không có nghĩa là ông thày giáo kém ông dạy đại học đâu. Có lần em đã nói trên báo là “ông thày tôi kính trọng nhất là ông dạy tôi từ lớp 1 đến lớp 4, có điều tôi không gọi ông ấy là giáo sư”. Mình hay bị lẫn lộn những danh xưng đó. Hâu hết những tác giả Việt Nam là tác giả ca khúc đúng nghĩa. Ở mình, cứ ai làm được một, hai câu thơ thì gọi là thi sĩ, cứ hơi một tý thì mình phong ngay làm sĩ. Theo tiếng Hán – Việt sĩ là trí thức. Là thi sĩ anh phải có trí thức, không có trí thức anh không thể là sĩ được, cùng lắm anh chỉ làm mấy vần thơ, có thể là thơ hay, nhưng không có trí thức về thơ thì không thể gọi anh là thi sĩ được.
ĐTB. – Trở về với đĩa nhạc này của anh, giá bán $50,000 có cao quá không?
PQ. – Em làm đĩa như thế này cũng là để chống hàng giả. Ở Việt Nam cứ một đĩa nhạc ra là ngày hôm sau có đĩa giả ngay. Đĩa em ra đưộc hai ngày thì đã có đĩa giả, hình thức cũng gần gần như vậy, nên người ta em làm sao mà chống chuyện làm giả được. Em thì nghĩ rằng có thể. Em nghĩ rằng em có một số thính giả chọn lọc nào đó, và một khi anh thích nhạc em thì không khi nào anh đi mua một cái đĩa dởm $12,000. Anh sẽ mua cái đĩa $50,000 của em. Không phải chỉ vì cái bìa nó đẹp, mà còn có cả một cuốn sách nhạc kèm theo, trong đó em trò chuyện với người nghe nhạc em. Dân chuyên làm giả thì không đủ can đảm bỏ một số tiền lớn để in sách như vậy. Thực tế, dù có đĩa giả, đĩa thật của em bán vẫn rất chạy, chứng tỏ effect của đĩa giả không bao nhiêu.
ĐTB. – Anh tính toán giỏi đấy nhỉ.
PQ. – Nói thật với anh, trong con người em một nửa là nghệ sĩ, một nửa là con buôn. Em có một nửa máu của bà mẹ, ngày xưa Mẹ em là một người buôn bán giỏi. Mẹ em là một trong mấy chục người đầu tiên ở Việt Nam mua xe ô tô cho chồng, trong nhà lúc nào cũng có vài chục gia nhân. Tất cả hệ thống cung cấp rượu từ Hà Nội lên phía bắc, gọi là hệ thống các ty rượu, là của Mẹ em. Ông cụ em sinh năm 1890, đến 57 tuổi mới có em, nhưng rất may là cha già mà con không cọc. Ngày xưa cụ là nhà nho, nhưng sau này có học thêm tiếng Pháp. Hồi đó cụ học được đến diplôme (?) là ghê gớm lắm rồi. Ông cụ em cậy có bà vợ buốn bán giỏi nên chỉ đi dạy đại học có hai năm, còn cả đời đi chơi. Thành ra em có nửa máu ăn chơi là của ông già, nửa máu kia của bà Mẹ.
ĐTB. – Nghe nói anh viết nhạc từ năm 18 tuổi?
PQ. – Em sáng tác từ năm 17 tuổi, viết nhạc không lời. Lúc đó thâm tâm em coi thường ca khúc. Em viết nhạc cho các dàn nhạc giao hưởng. Em chỉ viết chơi vài bài loại ca khúc, nhưng sau này khi vào Sài Gòn, từ cái láu lỉnh em mới nhận ra rằng nếu không viết ca khúc thì người ta không gọi mình là nhạc sĩ. Thành ra em viết ca khúc chơi, rồi dần dần thì thấy nó cũng hay. Nhưng quả thực khi viết ca khúc chưa bao giờ em có được cảm giác khoả thân ở trong đó được. Em thấy chỉ có viết nhạc không lời mình mới có thể đắm chìm tất cả con người mình trong đó. Còn ca khúc chỉ là những khoảng khắc, nên trong tập sách nhạc này em có nói một điều, lúc đầu người ta tưởng mình nói chơi, đó là trong phần lời tực. Thực ra, ngay khi nói với báo chí, mình hay nói đùa, nhưng chính khi nói đùa là mình nói một chuyện rất thật. Lời tựa này cũng giống như một thứ giả vờ tuyên ngôn “Tự thân bài ca vốn dĩ chỉ là một cái gì bé nhỏ ...GHI LẠI TỪ TẬP NHẠC”. Nhiều khi em viết một cái gì đó, nhưng luôn bên cạnh là những điều rất chung. Như em viết về ông bạn thi sĩ rất thân, ông Thái Thăng Long, em không chỉ viết về cá nhân ông, không chỉ vẽ chân dung ông, mà còn viết về những gì rất đời sống, như ví ông ta với Hà Nội chẳng hạn. Có nhiều người nói với em rằng “ông làm gì mà viết nhiều về Hà Nội thế. Hà Nội chỉ có những con đường nhỏ hẹp thôi.” Với những người qua đường hay dửng dưng, thì chỉ thấy Hà Nội là nhhững con đường nhỏ hẹp, nhưng nếu hiểu biết xâu xa hơn, thì sẽ thấy khác hơn nhiều.
ĐTB. – Về bài “Im Lặng Đêm Hà Nội”, anh đánh giá thế nào?
PQ. – Trong tập nhạc kèm theo đĩa này em có in bài đó, với lời dẫn như thế này “....” Đại khái là nhân một ngày trở về Hà Nội, em bỗng cảm thấy cô đơn, cảm xúc viết ra bài đó. Lời dẫn trên chỉ là cách giải thích xa hơn chứ không nói trực tiếp vào vấn đề, tuỳ mỗi người nghe thế nào thì nghe. Em viết bài đó cách đây hơn 10 năm. Các bài hát của em thường viết ra rất lâu mới được đón nhận. Mình là người có số phận không được đón nhận ồn ào, sau dần thành quen lối đó.
ĐTB. – Nhiều bài trong này là thơ phổ nhạc?
PQ. – Thực ra em thường chỉ lấy ý thơ, hoặc một câu thơ, rồi viết lên lời cả bài nhạc. Thí dụ bài “Hà Nội Ngày Trở Về”, chỉ có một câu của Thanh Tùng: “Vội vã trở về, vội vã ra đi”, bài “Im Lặng Đêm Hà Nội” lấy ý thơ của Hoàng Ngọc Liên (?), hoặc bài “Mơ Về Nơi Xa Lắm” em cứ đề lời thơ Thái Thăng Long, thực ra anh ấy chỉ có một câu: “Ta mơ thấy em từ nơi kia xa lắm, một Hà Nội ngây ngất nắng, một Hà Nội run run heo may.” Em đề trong bài nhạc như vậy vì nghĩ rằng nếu không có những câu thơ đó thì không có bài hát đó. Vốn dĩ em ngày xưa mê văn nchương hơn âm nhạc. ngày xưa em tốt nghiệp Tổng Hợp Văn. Hồi bé em mê văn hơn là nhạc, và ngay cả bây giờ bạn bè giới văn chương hoạ sĩ đông hơn bạn bè giới âm nhạc.
ĐTB. – Anh được mô tả là một nhạc sĩ khó tính, khó tính với ca sĩ, thực ra là thế nào?
PQ. – Mỗi người có một quan niệm, em thì quan niệm thế này: Có những ông nhạc sĩ, thi sĩ, nếu có ai hỏi bài hát, bài thơ này thế nào, thì ông ta bảo để từ từ ông ấy về xem lại, ông ấy quên rồi, phải đọc lại mới biết ra sao. Riêng em, những gì em viết ra thì em phải nhớ, giống như có ai hỏi đây có phải là con anh không, chẳng lẽ nói để tôi xem lại đã, hoặc hỏi nó bao nhiêu tuổi thì mình lại chờ hỏi nó xem đã. Đúng ra trên đời này cũng có những người mẹ, người bố không biết rõ con mình thật. Nhưng em quan niệm rằng nếu là tác phẩm mình đẻ ra thì giống như đứa con mình, mình phải thuộc lòng chứ. Tác phẩm em đẻ ra từ năm 17 tuổi đến bây giờ em cũng còn nhớ được tương đối. Dĩ nhiên nhạc không lời nó phức tạp hơn thì lâu như vậy khó lòng nhớ hết nổi, nhưng một ca khúc thì mình phải nhớ chắc chắn như thế nào chứ, anh chỉ cần 5 phút là chép lại được ngay. Thêm nữa, em có nguyên tắc này là công việc của mình là sáng tạo, tác phẩm mình đẻ ra đã được nắn nót như thế, thì không vì lý do gì các cô ca sĩ có thể sửa nó đi được. Một bài nhạc Việt Nam thì không thể là một bài hát nước ngoài, lại có hú hiếc gì đó. Không thể một bài nhạc mình lại có thêm phần feeling giống như Celine Dion thì nghe nó ngớ ngẩn. Người ta tưởng đó là sáng tạo, nhưng thực ra đó là điều rất buồn bã. Ngay cả cô ca sĩ nổi tiếng như Mỹ Linh hát một bài của ông Dương Thụ chẳng hạn, cô ấy lấy luôn một câu feeling của ai đó mà ghép vào. Đã gọi là feeling thì tự anh phải hát ra, nhưng đây lại bắt chước một câu goị là ngẫu hứng của người ta, ghép vào bài nhạc Việt Nam, rồi rất tự hào đó là sáng tạo.. Em quan nniệm đó là điều ngớ ngẩn, rồi em sẽ viết một bài báo động về quan niệm thẩm mỹ của người mình: Đó là sự đánh tráo giá trị và sự dung tục hoá nghệ thuật. trên các phương diện truyền thông, trên báo chí, truyền hình. Hiện nay người ta đang làm nghệ thuật rẻ rúng đi, người ta không dám chê những giá trị đích thực, nhưng người ta cứ lôi những giá trị giả ra mà khen ngợi mãi thì có nghĩa rằng giá trị đích thực lâu dần thành đồ giả. Đó là đánh tráo giá trị. Em dùng hình ảnh thế này để diễn đạt: Thời kỳ đất nước khó khăn, ở Sài Gòn có người chế ra cà phê bắp để thay cà phê thật không kiếm đâu ra. Đến một ngày nào đó, người ta đã quá quen với cà phê bắp, nếu có ai mang cà phê thật ra thì người ta sẽ bảo đó là cà phê giả vì “cà phê tôi uống từ xưa đến giờ đâu có làm mất ngủ, đâu có làm tim đập nhanh,..” Vậy thì tình hình tuyên truyền hiện nay rất nguy hiểm tới quan niệm thẩm mỹ của người mình.
ĐTB. – Trong đĩa này có một bài Thanh Lam hát, anh thấy cô ấy có hát đúng với nhạc không.
PQ. – Rất đúng, anh ạ. Không có một lời hú hý nào cả, bởi vì em có lần nói với cô ấy rằng nếu không hát đúng thì cháu có thể nghỉ hát. Cũng có lần cô ấy hỏi “chú có cho cháu sửa không?”, em cương quyết là không có sửa gì cả, “hoặc hát nhạc chú, hoặc không.” Đối với công việc em quan niệm khác nhiều người. Thí dụ ngày xưa, một cô ca sĩ khi đã nổi lên có thể nói thế này: “Chú biết không hôm qua cháu hát cho chú một bài được “bis” đấy!” Người khác thì chắc cũng cám ơn để khỏi mích lòng, nhưng em thì nói luôn: “Cháu không thể nói hát cho chú được. Đáng lẽ cháu phải nói là hôm qua nhờ bài hát của chú cháu hát đã được bis. Hơn nữa cháu còn phải mang tiền hát chia cho chú nữa chứ. Chú phải nói với các cháu điều này, đây có cả Thanh Lam, cả Hồng Nhung, cả Mỹ Linh, chú nói thế này: Các cháu có hát thêm một bài của chú, chú cũng không thể nổi hơn Phú Quang được. Nếu các cháu vì giận quá không hát thì chú cũng không thể vì vậy mà mờ nhạt đi thành phú ông, phú hộ gì được.
ĐTB. – Tôi có nghe mấy cô nói anh khó tính. Nhưng kể ra anh có một quan niệm khá khác người và đứng đắn trong nghệ thuật.
PQ. – Thế này anh ạ, vì người ta thường nghĩ nghệ sĩ là một anh quần áo nhầu nát, tóc tai bù sù, chân nam đá chân xiêu, nói trước quên sau, thậm chí lâu ngày khôngn tắm nữa. Thực ra không phải như vậy. Nghệ sĩ đích thực là một nhà khoa học. Trong một buổi hội thảo về “con người thế kỷ thứ 21”, gồm toàn là các ông bằng cấp, chỉ có mình em thuộc giới âm nhạc. Một ông bảo em thế này: “Cứ như ông Quang là sướng nhất, chẳng cần khoa học gì cả...” Em đã phải nhắc khéo ông ấy rằng ông ấy bảo cùng học trường Đống Đa với em, nhưng suốt 10 năm trời năm nào em cũng nhất toán và văn, mà chẳng thấy ông ấy đâu cả. Vậy thì trong 10 năm đó em không là nghệ sĩ à. Còn muốn trở thành như em hiện nay trong “cái nghề nghệ sỹ này”, em cũng đã phải học một cách đàng hoàng, học theo tinh thần khoa học chứ. Thành ra người ta quan niệm như vậy, buồn lắm. Thí dụ mỗi nhà soạn nhạc của Tây chẳng hạn, khi đến giao lưu với anh, người ta mở ra tập dầy nhạc phổ. Còn ông Việt Nam rút từ trong cặp ra, đôi khi từ trong ví ra, một tờ giấy nhàu nát, rồi ông gõ tay thế này thì piano đánh thế nào được. Đó là cái thê thảm của nghệ thuật Việt Nam.
ĐTB. – Năm anh 17 tuổi đã bắt đầu sáng tác nhạc không lời, thế anh học nhạc từ bao giờ?
PQ. – Em học nhạc từ năm 7 tuổi, ở nhạc viện Hà Nội, ngày xưa gọi là trường âm nhạc Việt Nam. Em học nhạc từ bé, những nếu hỏi vì lý do gì đi học nhạc, nói ra nghe buồn cười lắm. Hồi đó đất nước còn khó khăn lắm, nhưng tất cả học sinh nghệ thuật hưởng một chế độ đặc biệt về đường, sữa, thịt cá, rồi lại bồi dưỡng rất cao. Ông anh của em nhất định đẩy em vào trường nghệ thuật cho sướng thân. Nhưng khi thi thử vào trường múa thì cái chân mình cong queo, người mình không cân đối, không được nhận. Mà em thì ghét múa, nên khi bị trượt thì lại mừng. Sau đó thi vào trường nhạc thì suất sắc, được nhận ngay. Nghĩa là nếu có vào trường nhạc cũng vì là chỗ có cái cho em ăn, thế thôi. Cũng may đó là cái nghề mình cũng thích. Thực ra thì nó cũng có trong máu mình, ông già em ngày xưa dân ăn chơi dữ lắm, đi hát cô đầu, đánh trống, chơi đàn nguyệt này kia rất hay, nên cũng có ảnh hưởng đến em.
ĐTB. – Tôi có một số người quen rất thích nhạc của anh. Tuy nhiên có anh nhận xét nhạc anh có hơi Tây. Như thế trong sáng tác của anh những bài mang hơi hướng dân ca, quan họ, thì do đâu mà có như vậy?
PQ. – Anh đã nghe bài “Chiều Phủ Tây Hồ” chưa. hoặc những bài như “Đêm Ả Đào”, ... nhiều bài mang hơi dân ca lắm. Nhưng tận thẳm sâu trong ý nghĩ về âm nhạc của em thì có hơi khác. Tại sao em có thể làm những bài đặc dân ca? Bởi vì đó là cách làm nhạc rất dễ. Nói thật ra, theo em, những người cứ nhái nhái dân ca, em gọi đó là ăn cắp của các cụ. Thực ra, những đoạn trong bài “Chiều Phủ Tây Hồ”, “Đêm Ả Đào”, có những đoạn như thế này,... thì nó cũng giống như khi ta hát “Hồng Hồng, Tuyết Tuyết, nhớ ngày nào còn chưa biết cái chi chi,...” Nói cho đúng đó là lấy của các cụ. Em làm những bài dân ca vì để mọi người hiểu rằng nếu muốn tôi cũng có thể làm những bài mang chất dân ca được. Nhưng em quan niệm không nên như thế. Thí dụ anh lấy bài ru con Nam Bộ: “Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ,...” Anh có hát thành “Gió mùa thu ớ ơ ơ, mẹ ru con ngủ ứ ư ư,...” thì vẫn còn hay anh ạ. Mặc dù anh đã làm hỏng rồi nhưng vẫn còn hay. Có phải của các cụ vốn đã hay rồi không. Bây giờ lấy làm của mình, gọi là mang hồn dân tộc. Nhưng em muốn chứng minh một điều ngược lại: Tính dân tộc càng cao bao nhiêu thì tính quốc tế càng thấp bấy nhiêu. Tại sao nhạc Mỹ phổ biến khắp thế giới, bởi vì nó đâu có mang nặng tính dân tộc nào đâu. Cái nhạc Nga thì anh nghe biết là nhạc Nga ngay, nên biên ngiới nó bị đóng lại. Cao cấp hơn nữa là nhạc Ý, nhưng cũng không phát triển được vì màu sắc nó rõ ràng quá. Cho nên không phải nhạc em mang tính Tây. Em chỉ muốn nó (phổ quát hơn). Khi em sang Paris biểu diễn, một bà phóng viên Paris Match viết thế này: “Tôi biết ông ta nói cái gì nhưng tôi có thể hiểu được tất cả những điều ông ta muốn nói.” Như thế anh thấy làm những bài như “Chiều Phủ Tây Hồ”, mà nhiều người cho là khá thành công, thì rất dễ. Nói ra với anh thì lộ bí mật, nhưng nói thực làm những bài đó rất dễ. Như đã nói với anh, trong mấy bài đó em nhái âm hưởng ả đào, “Hồng Hồng Tuyết Tuyết,..,” nhưng người ta rất thích. Bởi vì trong (thưởng thức) âm nhạc có một yếu tố này nữa: Là người ta phải quen với “đường rãnh” của nó. Lần đầu nghe thì phải thấy bài này nghe được, nhưng muốn thuộc nó, muốn rung động với nó, phải đến lần X. Thí dụ anh bảo rất thích bài “Im Lặng Đêm Hà Nội” của em, thì lần đầu tiên anh phải cảm thấy bài nài cũng được, rồi lâu dần anh mới thất hay và rất thích. Những bài hát mang tính dân ca được người ta thích là như vậy. Người nghe đã nghe điệu nhạc này ở đâu đó rồi, nên rất dễ cảm thông. Nhạc của em có một cái nhược điểm là không một bài hát nào của em được chấp nhận rộng rãi trước 5 năm sau khi sáng tác, sớm lắm cũng phải 10 năm. Thí dụ bây giờ người ta cứ nói rằng “một sáng tác mới rất nổi tiếng của nhạc sĩ Phú Quang là bài “Không Phải Bởi Mùa Thu.” Thực ra không thể gọi là mới được, vì em sáng tác bài đó từ năm 1976, tức là 26 năm rồi. Nhưng bây giờ người ta mới hát vì bây giờ mới quen với cái kiểu cách bài đó. Mình mới nghiệm ra rằng số của mình như vậy.
ĐTB. – Trong số các ca sĩ anh cho ai là người hát anh “nghiêm chỉnh” nhất?
PQ. – Em là người không có ca sĩ riêng cho mình, và em cũng không muốn có ca sĩ riêng. Mỗi ca sĩ hát được một số bài thôi, có lẽ vì mình cũng hơi “dị dạng”, chẳng ra công, chẳng ra quạ. Cho nên tuỳ người, tuỳ bài, có một số người hát một số bài nào đó thành công như Lê Dung, Thanh Lam, Quang Lý, Hồng Nhung, Ngọc Anh. Em cũng không thích một ca sĩ nào riêng hát cho mình, như anh Trịnh Công Sơn có chị Khánh Ly. Điều đó có thể gây ấn tượng nhưng cũng có cái hại là sau này nếu có ai hát Trịnh Công Sơn thì người ta có cảm tưởng hát không đúng. Cũng như người ta bảo Hồng Nhung hát Trịnh Công Sơn hay, em thì chẳng thấy hay ở chỗ nào cả.
ĐTB. – Trong số các nhạc sĩ có thể gọi là đàn anh,.. thôi nói như thế này, lúc nãy anh có hát đoạn dân ca Nam Bộ, thì tôi nhớ đến nhạc sĩ Phạm Duy với trường ca Mẹ Việt Nam. Anh có gọi đó là sáng tác của ông ta không?
PQ. – Đó cũng là sáng tác anh ạ. Nhưng em vẫn muốn nói rằng viết mà dựa trên dân ca thì đối với một người có nghề như em, đó là việc dễ nhất. Nếu anh muốn có dân ca Campuchia,... thì cũng rất dễ. Em từng viết một bài hát Nga mà thằng Nga phải hỏi tại sao bài hát Nga này tao chưa từng được nghe bao giờ. Bởi vì theo một qui luật điệu thức nào đó thì anh sẽ viết ra một bài Nga ngay. Nó có một biểu thức, một công thức, một người có học sẽ phân tích công thức đó ra và đưa nốt nhạc vào, dứt khoát nó sẽ ra loại nhạc đó. thí dụ công thức nhạc Ấn Độ, hay nhạc Trung Á chẳng hạn, nó theo điệu thức (là lá la lá la là là...). Còn nếu anh nghe điệu như thế này (... ) thì anh lại nghe ra nhạc Nhật ngay. Do đó cái việc viết nhái dân ca là việc dễ nhất. Nhưng nhiều người cho đó mới là dân tộc, là quốc hồn quốc tuý. Em không nghĩ vậy.
ĐTB. – Như thế trong các nhạc sĩ đàn anh, anh đánh giá ông nào ...
PQ. - Em bị một cái lỗiø không thấy ai là thần tượng. Mỗi người em ưa thích họ ở một vài điều. Nhưng nếu coi là thần tượng thì mình phải theo họ, mà vốn dĩ từ bé mình bướng bỉnh. Nhiều khi mình cứ gọi tướng lên là thế này thế kia, chứ trên thế giới một nhạc sĩ nổi tiếng thì bề dày của họ khủng khiếp lắm, chứ với mình một vài ca khúc có gì đáng khoe mẽ đâu. Ở nưo971c mình có bệnh vĩ cuồng, làm được vài bài hát coi người như rác hết. Khổ một cái nghệ sĩ là số hiếm hoi người được vỗ tay. Như anh là nhà báo, có viết một bài báo hay đến mấy cũng chẳng ai vỗ tay cả, rồi một bác sĩ có chữa được bệnh hiểm nghèo cũng chẳng ai vỗ tay, nhưng em cứ hát một bài tạm được là người ta vỗ tay rồi. Thế thì mấy ông nghệ sĩ tưởng rằng những người vỗ tay mình là thua kém mình rồi. Đó là một sự nhầm lẫn. Thành ra người nghệ sĩ nhiều khi cũng có ngộ nhận. Ông Phạm Duy em thấy một số bài hay, ông Văn Cao cũng một số bài hay, và nhiều nhạc sĩ khác nữa, ai cũng có cái hay, nhưng bảo là thần tượng thì không. Có một lần qua Singapore người ta hỏi ông này ông kia có phải bậc thày không, thì em bảo là không, “theo chỗ tôi được biết thì tôi học nhiều hơn họ, nhưng không phải vì thế tôi không quí mến họ. Tôi rất yêu mến họ.” Chẳng hạn có một lần em làm đêm nhạc Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Phú Quang, có người khích bác nói là em đứng bên hai đỉnh núi thái sơn. Em nói rằng “trước hết đối với tôi họ không phải núi thái sơn, tôi có làm đêm này chỉ vì tấm lòng yêu mến. Xuất xứ chương trình này chỉ vì có lần anh Văn Cao nói với tôi là “Quang ơi, anh rất buồn là nó lôi anh ra Hải Phòng một tuần liền, đêm nào cũng nói năng lăng nhăng mà không có một xu nào, mỗi ngày nó cho anh uống mấy chén rượu, ăn một hai bát súp.” Thế thì tôi thấy thương anh ấy, nghèo quá. Tôi bảo anh để đấy em làm cho anh.” Anh có biết lúc đó một cô ca sĩ lấy có $150,000 thôi, mà em tặng ông Văn Cao 10 triệu, ông Trịnh Công Sơn 5 triệu. Em nói chỉ phiền ông ấy thế này thôi, là “buổi đầu tiên em chỉ cần anh ra chào một cái, không cần nói năng gì hết. Em sẽ dìu anh ra chào một cái.” Cô Hồng Nhung thấy em đưa ông Văn Cao 10 triệu, bảo em rằng: “Chú ơi, chú trả ông Văn Cao cao thế mà trả cháu thấp thế?” Cô ấy là ca sĩ hàng đầu mà, lúc nào cũng phải $150,000. Thì em mới trả lời cô Hồng Nhung thế này: “Không phải cháu ạ, cháu mới là cao, còn bác Văn Cao thì bị thấp, vì cả đời bác ấy mới được có 10 triệu, còn cháu cứ hát một đêm là có $150,000 rồi. Cháu được cao đấy.” Mình làm cũng vì tấm lòng, nhưng người ta nghĩ là mình nhờ danh tiếng đó. Họ quên một điều là khi em làm chương trình một mình thì bán vé nhanh hơn là làm chương trình chung. Không phải vì nhạc mình hay nhơn ai, nhưng khi làm một mình thì có những “fan” chỉ thích nhạc mình thì mua vé rất nhanh. Có thính giả cực đoan còn nói bọn tôi chỉ mua vé khi anh làm chương trình một mình thôi. Các chương trình em ở Việt Nam bao giờ cũng bán hết vé, mọi người hỏi làm sao mà giỏi thế. Thực ra có giỏi gì đâu. Cứ thử nghĩ là bán vé ba đêm đầy nhóc rạp thì chỉ khoảng 3500 vé, mà trong khi Hà Nội, Sài Gòn mỗi thành phố năm bảy triệu người mà chỉ bán số vé đó thì có tài năng gì đâu. Nhưng có điều “tôi biết bán đúng người cần mua vé.” Chứ còn trong cái nghề nhạc này, cá nhân em có thể nói không có gì đáng để khoe mẽ cả. Nếu em nói số lượng thì anh giật mình, nếu không nói chất lượng chỉ số lượng thôi thì em đã viết nhhạc cho hơn 200 bộ phim, về sân khấu trên 100 vở, về nhạc cho ballet khoảng hơn 300 tác phẩm, còn giao hưởng, không lời nữa. Em viết đủ mọi thứ, phối nhạc nhẹ, ca khúc, giao hưởng, thính phòng, nhạc kịch, thậm chí nhạc cải lương, nhạc chèo cũng viết. Mọi người hỏi sao anh tài thế, “ tài tôi cũng giống như một con vịt, cái gì cũng một tý thôi” Thực ra chỉ để thoả cái tính tò mò, táy máy, muốn thử xem viết cho cải lương thì thế nào. Vậy mà khi viết cho cải lương, ngay cả Thanh Kim Huệ cũng cứ phong em là vua viết nhạc cải lương. Thực ra chẳng vua chúa gì đâu, cũng gọi là đâm thuê chém mướn, kiếm ăn đấy mà.
ĐTB. – Hồi nãy anh có nói viết bài báo để “báo động về thị hiếu thẩm mỹ”, anh nói rõ hơn được không?
PQ. – Em chỉ muốn nói rằng trên báo chí, truyền hình, trên các phương tiện thông tin đại chúng, họ đang dung tục hoá nghệ thuật.. Tất nhiên là nghệ thuật thì muôn màu muôn vẻ, nhưng anh không thể xếp bà bán cá ngoài chợ bến thành nghe cùng thứ nhạc với anh được. Thứ nhạc anh thích thì bà ấy không thể thích được, vậy đừng ép bà ấy ngồi chung. Phải để bà ấy nghe Chế Linh, Tuấn Vũ, ...Nhưng thế này, nếu anh không nghe được loại đó thì anh cũng đừng mắng mỏ người ta khi người ta nghe. Không thể ép người khác theo ý thích mình. Thế nhưng trong phương tiện thôn tin tuyên truyền, không thể lấy một góc đó rồi thổi phồng lên (để chứng tỏ là bình dân). Trong một hội nghị âm nhạc em nói thế này: “Bởi vì tôi thấy các anh lập quá nhiều trung tâm phục hồi chức năng, nếu nhà nước còn tiền tôi đề nghị lập một trung tâm phục hồi chức năng xấu hổ.” Con người ta bây giờ có mấy dây thần kinh về xấu hổ đứt gần hết rồi. Thí dụ trong dịp tết vừa rồi (tết 2002), có chương trình của một cô biên tập viên, một nhà văn làm trong truyền hình, đã viết kịch bản về một cậu pê đê, thế mà cô ta cắt chương trình của ngoại quốc chêm vào, dụng ý xuyên tạc, bôi nhọ đi làm thành buồn cười, bẩn thỉu. Rõ ràng họ không ý thức gì về nghệ thuật, và còn không ý thức về bản quyền nữa. Đưộc cái may chươngt trình truyền hình Việt Nam chẳng ma nào xem để mà kiện cáo cả. Chuyện đạo văn không có gì mới mẻ cả, nhưngđời Đường, khi bị tố giác đạo văn, người ta tự tử. Còn đời nay, người ta lại vênh vang, tự hào là mình ăn cắp giỏi. Lại thêm chuyện này, có một ông nhạc sĩ, vợ là nhà báo, thì trong 20 bài viết ca tụng ông ấy có đến 19 bài do vợ ông ấy viết. Cô con gái này thì chỉ nói nhạc bố tôi là hay nhất, còn cô nọ thì nhạc chồng tôi là hay nhất. Có một lần ông Nguyễn Đình Toàn nói: “Bây giờ mình chán quá rồi Quang ạ. Có cái thằng Dương Thụ mình đoịc mấy chục bài về nó thì có đến mười mấy bài vợ nó viết.” Em mới nói đùa thế này: “Anh ơi, có gì mà buồn, thời buổi này em gọi cho đúng từ thì là thời buổi người ta thủ dâm danh vọng. Chẳng có ai làm mình sướng thì mình làm mình sướng vậy.” Người ta làm những chuyện nđó lồ lộ giữa ban ngày.
ĐTB. – Anh thường gặp Nguyễn Đình Toàn?
PQ. - Em rất quí ông ấy. Hồi mông ấy còn ở Việt Nam, thỉnhthoảng nhoặc em đến ông ấy, hoặc ông ấy đến em. Anh em ngồi với nhau raq61t lâu. Vừa rồi từ Mỹ ông ấyn có gửi tặng em một cái đĩa mới của ông ấy. Ông ấy là người có một khả năng rất lạ lùng, em nghiệm thấy một số người trong đời, là có khả năng hâm nóng anh lên. Khi buồn chán, đến nói chuyện với ông ấy là anh lại thấy muốn làm việc. Trong giới nghệ sĩ hai người em quí mến nhất, vì tư cách của họ. là ông Lê Đạt và ông Nguyễn Đìnhn Toàn. Theo em, tư cách mới mlà quan trọng, tài năng anh có thể học hỏi, tập tành miệt mài để nâng cao, nhưng còn nhân cách là điều muốn rèn được thì khó vô cùng.

Còn nhiều điều tôi muốn hỏi Phú Quang, nhưng một tiếng rưỡi đồng hồ đã trôi qua, nên đành cảm ơn và hẹn Phú Quang một dịp khác.

Thái Thanh: Tiếng Mẹ Sinh Từ Lúc Nằm Nôi



Thái Thanh:
Tiếng hát vang vọng giữa trời xuân
(Tựa trên Giai Phẩm Xuân Người Việt – 2005)
Đỗ Tăng Bí
Hình: Kiệt Trần, NG. Thien Co, Vu Đinh Trong, chụp ngày 1 Tháng 5, 2005, trong sinh họat tiễn Phạm Duy ở quán Nghệ Sĩ, (hiện nay, Tháng Giêng 2009 có tên là quán Oh, Me Ly)
Chúng tôi có cơ duyên gặp danh ca Thái Thanh nhiều lần, nhưng chỉ gần đây, 2003, 2004 mới có ý định hỏi han đôi điều về cô. Phần phỏng vấn dưới đây có sự đóng góp của Lan Anh (báo Phụ Nữ Gia Đình Người Việt) và Phạm Giao (Nhật báo Người Việt).

Thái Thanh sinh năm 1934, là em út trong gia đình 5 anh em: anh cả là Phạm Đình Sỹ (bà Phạm Đình Sĩ là kịch sĩ Kiều Hạnh sinh ra Mai Hương, Bạch Tuyết), anh thứ là Phạm Đình Viêm tức Hoài Trung, chị là Thái Hằng, anh thứ tư là Phạm Đình Chương tức Hoài Bắc. Quê ngoại Thái Thanh ở Sơn Tây, còn cô ra đời ở làng Bạch Mai, Hà Nội. Năm 1946 cô theo gia đình tản cư vào vùng Chợ Đại, rồi Thanh Hóa là nơi Thái Hằng kết hôn với nhạc sĩ Phạm Duy. Tháng 5, 1950 gia đình cô cùng Phạm Duy bỏ vùng kháng chiến về Hà Nội, sau đó vào ngay Sài Gòn. Suốt những năm trường sau đó cho đến khi Miền Nam bị mất, tiếng hát Thái Thanh cùng nhạc Phạm Duy bay bổng khắp nơi. Nhà văn Mai Thảo đã gọi giọng hát cô là “tiếng hát vượt thời gian”. Quả thật cho đến trăm năm nữa, tiếng hát này chắc vẫn còn ngự trị trong tâm tưởng người dân Việt, sẽ còn vang vọng như khúc quan họ giữa trời xuân.
Kết hôn cùng tài tử Lê Quỳnh năm 1956, Thái Thanh và Lê Quỳnh có 5 người: Ý Lan, Lê Việt, Quỳnh Dao tức Quỳnh Hương, Thanh Loan và Lê Đại. Khi nói đến những văn nghệ sĩ, nhất là trường hợp một nữ danh ca, ít ai để ý đến khía cạnh Bà Mẹ trong đời sống những phụ nữ này. Có tác giả đã nói đến tấm lòng Bà Mẹ của Thái Thanh trong việc nuôi dưỡng đàn con. Cô Thái Thanh đã vượt qua biết bao khó khăn, chịu đựng biết bao vất vả để giúp các con, nhất là hai người con bé nhất, có được một cuộc sống tốt đẹp. Bây giờ chúng tôi muốn nói đến khía cạnh khác trong cuộc sống của cô, một khía cạnh càng làm lớn con người của Thái Thanh: Đó là nghị lực chống chỏi với bất hạnh của cuộc sống. Cách đây 4 năm (2000) cô bị một cơn tai biến mạch máu não (strocke), mất hết trí nhớ. Nằm trong phòng mạch bác sĩ cũng như khi ở bệnh viện cô không còn nhận biết ra người thân. Đôi khi cô nhận ra Quỳnh Hương, Ý Lan, đôi khi không. Ở bệnh viện về cô đã cố gắng tập luyện rất nhiều để khôi phục trí nhớ. Mấy tháng sau khi rời bệnh viện cô đã nhận biết ra nhiều điều quen thuộc, nhưng bài hát thì lẫn lộn lung tung. Không biết do nghị lực của chính cô, sức sống mãnh liệt của chính cô, hay do phép lạ mà sau đó trí nhớ cô hồi phục dần. Từ chỗ không còn nhận ra người thân, cô đã nhớ lại được từng lời bài hát. Trong dịp đón Thụy Khuê từ Pháp qua ở nhà Y Sa, độ một năm sau biến cố trên, Thái Thanh đã thấy “ngứa ngáy” muốn giúp cho buổi tối xum họp bạn bè thêm đẹp, nhưng cô đành chỉ hát được vài câu rồi thôi vì quên lời. Vậy mà đến ngày “Lễ Của Mẹ” (Mother’s Day) năm 2004, ngày Thái Thanh và 3 thế hệ ở Majestic, Thái Thanh đã xuất hiện duyên dáng trong vai nữ sinh áo dài trắng, nón lá, cắp sách đến trường mở đầu buổi trình diễn với bài “Ngày Xưa Hoàng Thị”, và hát một loạt bài sau đó.
Chắc chắn Thái Thanh đã có một ý chí mãnh liệt, thứ ý chí giúp cô sống qua những tháng năm ở Sài Gòn đen tối, giúp cô chăm sóc các con trong cơn bệnh hoạn ngặt nghèo, rồi giúp cô hát lại được ở tuổi 70. Dưới đây chúng tôi xin ghi lại đôi lần chuyện trò với cô trước và sau khi cô bị stroke:
Hỏi: Chị bắt đầu hát năm nào, Chị còn nhớ bài hát đầu tiên?
TT.:Không nhớ rõ, nhưng về tuổi thì tôi bắt đầu hát từ năm 13, 14 tuổi. Không nhớ rõ bài hát đầu tiên trình diễn là bài nào nhưng chắc chắn là của Phạm Duy. Hồi đó, năm tôi 14 tuổi, anh Phạm Duy cứ phải dùng tôi làm cái cái cớ lấy điểm với chị Thái Hằng, chị ruột của tôi. Năm đó Thái Hằng khoảng 21 tuổi. Không lạ gì mà hồi đó đã có bài “Dòng Sông Xanh” nhạc ngoại quốc, lời Việt. Ông Phạm Duy đã phải đặt lời Việt cho bài “Dòng Sông Xanh” để cho cô Thái Thanh bé xíu hát thì mới lấy điểm được với bà Thái Hằng.
Hỏi: Chị còn nhỏ vậy mà các cụ vẫn cho chị hát?
TT.: Bố mẹ tôi cũng là những nghệ sĩ chơi đàn cổ như đàn tranh chẳng hạn, nên cụ thông cảm. Dù không bị ngăn cấm vì “xướng ca vô loài” nhưng các anh em tôi đều được các cụ hướng dẫn là cần nhất phải học hành trước đã, đàn địch là chuyện phụ thôi, nhưng lúc chạy loạn tôi không có cơ hội học chữ nhiều nên có thể tự học ca hát.
Hỏi: Hồi xưa kỹ thuật còn thô sơ, phương tiện không có nhiều. Chị có nghĩ là nếu hồi đó có được những phương tiện và kỹ thuật như bây giờ, Thái Thanh sẽ khác hơn không?
TT.: Hồi đó khi tôi hát, lúc tôi mười mấy tuổi, thì kỹ thuật mình đã có gì đâu. Cái micro dài thật dài và to bằng cả cái bàn tay mình. Nếu tôi đứng gần micro để tiếng hát phát ra tốt hơn thì khán giả không nhìn thấy tôi, còn nếu tôi đứng xa để khán giả thấy được khuôn mặt tôi thì tiếng hát lại không còn rõ nữa. Nếu kỹ thuật được như bây giờ thì hẳn là phải khác đi chứ. Nhưng dù sao tôi vẫn có niềm hạnh phúc mà ít ai có được là từ năm 14 tuổi tôi bắt đầu hát với cái micro to như thế cho một nhóm khán giả nghe, đến bây giờ gần 70 tuổi, tôi vẫn còn được hát và thu vào CD để gửi cho thính giả khắp thế giới nghe, nghĩa là hơn 50 năm sau tôi lại được dùng cái technique mới cho giọng hát của mình. Hạnh phúc lắm.
Hỏi: Lần đầu tiên chị xuất hiện trước công chúng là ở đâu, Hà Nội hay làng quê?
TT.: Sure là ở làng quê vì hồi đó là lúc kháng chiến. Khi đó có những ban nhạc hát cho công chúng ở vùng quê nghe. Lần đầu tiên tôi lên sân khấu ở tuổi 14, mình còn bé xíu mà đứng trước đông đảo bà con, nên tôi cũng sợ lắm. Nhưng sau khi cất tiếng hát, thì tiếng hát, âm nhạc làm tôi hết sợ mà còn cảm thấy hứng khởi, hạnh phúc, vì lúc đó tôi được đứng trong ban hợp ca gồm các anh các chị như Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Hằng, những người sau này thành ban “Thăng Long”.
Hỏi: Ban hợp ca Thăng Long được thành lập từ hồi đó?
TT.: Nói thế cũng được. Có thể nói “Thăng Long” được thành lập từ hồi kháng chiến, từ khi tôi còn nhỏ.
Hỏi: Sau này chị gia nhập đoàn kịch “Gió Nam”?
TT.: Ban hợp ca Thăng Long ở trong ban Gió Nam, tuy hai mà một. Lấy tên Gió Nam vì chúng tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn rồi trở ra Hà Nội trình diễn, mang cái gió miền Nam ra ngoài Bắc.
Hỏi: Chị có thấy là giọng chị hợp với nhạc Phạm Duy, hay là Phạm Duy sáng tác để cho chị hát?
TT.: Anh Duy lớn hơn tôi mười mấy tuổi, có lẽ muốn biết chính xác điều đó phải hỏi anh Phạm Duy. Tôi chỉ biết là kể từ bài “Dòng Sông Xanh” anh Duy đặt lời cho tôi hát, thì anh đã biết giọng hát tôi làm sao, sau đó những bài hát của anh ấy sáng tác ra thường do tôi hát đầu tiên nên chắc là anh phải chọn sao đó cho thích hợp với giọng hát Thái Thanh.
Hỏi: Bài “Dòng Sông Xanh” chị hát năm 14 tuổi, như thế chị có phải tập luyện nhiều không?
TT.: Về chuyện tập luyện, lúc đó mình chưa có trường “Quốc Gia Âm Nhạc”, chưa có ai mở khóa huấn luyện hát (thanh nhạc), tôi chỉ có thể nghe đàn bài nhạc, và với tuổi 14 mà tôi hát đước bài đó, tôi nghĩ phần lớn do thiên phú. Ngay cả chuyện phát âm, trước hết tôi đọc lời ca cho đúng, và khi hát tôi phải phát âm như lúc tôi đọc chứ không thể để chữ nọ xọ chữ kia, giọng nọ xọ giọng kia. Tôi nghĩ rằng chuyện phát âm tiếngViệt một phần tôi có được cũng là chút năng khiếu trời cho.
Hỏi: Một số bài hát chị có thêm thắt đôi chút mà bây giờ người ta gọi là “feeling”, chị có nghĩ đó là ưu điểm của chị, là sự sáng tạo của chị, và nhạc sĩ liệu có hài lòng không? Thí dụ như bài “Paris Có Gì Lạ Không Em”, ở phần cuối chị thêm vào khúc “Lá La La Là Lá La....”, chúng em cho rằng khúc hát thêm đó thật tuyệt vời, làm sáng hơn cái chất Paris trong bài hát. Thế nhưng liệu nhạc sĩ có đồng ý không?
TT.: Ở đây phải nói nhạc sĩ là tác giả chứ không phải người chơi đàn. Tôi vẫn nghĩ là tôi “feel” được cái bài đó phải được phát âm thế này, phải có cái đoạn mà tôi tự thêm vào. Thường thường tôi vẫn lo rằng tác giả bài nhạc không bằng lòng với lối phát âm của tôi ở khúc đó, không bằng lòng với đoạn thêm thắt của tôi, nên tôi hay phone hỏi tác giả. Tôi nói rằng bài mà tôi sắp hát của ông đây nếu tôi trình diễn thêm như thế này thì ông thấy thế nào. Hầu hết tôi nhận được lời khen của tác giả và họ đồng ý cái kiểu hát của tôi khiến bài hát hay hơn.
Hỏi: Về phía người chơi đàn, ban nhạc đệm cho chị, có khi nào đang hát chị chợt thấy có cảm hứng và thêm vào, hay thay đổi cách diễn đạt, mà ban nhạc không biết trước không?
TT.: Cái đó thì chưa xẩy ra bởi vì bao giờ cũng phải tập với ban nhạc hoặc dặn dò nhau đôi chút. Muốn thêm hay bớt điều gì đó đều phải được dự trù trước, vì chính mình cũng phải nghe thử xem sự thêm bớt đó có hay không. Chưa bao giờ đứng trên sân khấu mà tôi làm chuyện đó. Nhân nói về chuyện đứng trên sân khấu, có một lần tôi đứng hát trước khán giả, người đệm piano cho tôi hát hôm đó là nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi. Ông đã chọn đệm cho tôi với ton Ré majeur, mà nếu hát Do majeur thì vừa với giọng tôi hơn. Khi tôi nghe intro, tức là khúc mở đầu mới có độ 3, 4 nốt của ông, tôi vẫn đứng yên tại chỗ và dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ làm thành hình chữ C ra hiệu cho ông, ông đã hiểu ý tôi ngay và chuyển từ Re xuống Do. Sau đó ông khen tôi: Tai của Thái Thanh thính quá, mới nghe mấy nốt mà đã nhận ra là Ré, không phải Do để ra hiệu cho tôi. Thái Thanh giỏi lắm.
Hỏi: Thế chị học nhạc lý ở đâu? Đọc đâu đó có viết là chị phải chui đầu vào trong cái chum để tập phát âm?
TT.: Nhạc lý cũng như là xướng âm tôi đã phải đặt mua sách từ bên Pháp, theo đó tự học, có gì khó thì hỏi anh Phạm Đình Chương. Anh Chương là thầy dậy tôi. Anh có lần nói: “Cô có cái đặïc biệt là trước khi tôi dậy thì cô đã biết rồi”. Còn chuyện chui đầu vào chum thì không có đâu. Có lẽ ai đó đã đoán thôi vì thấy giọng tôi, cách phát âm của tôi khá mạnh nên họ nghĩ vậy. Cái giọng mạnh này chắc cũng là do trời cho tôi.
Hỏi: Có thể nói 70% tài năng của chị là do thiên phú?
TT.: Vâng, tôi cũng nghĩ như vậy. Trời cho tôi giọng, Trời còn cho tôi hai lá phổi rất rộng. Ý Lan có lần đã nói với tôi: “Mỗi lần con nghe Mẹ hát, nghe Mẹ xướng âm, con có cảm tưởng như tất cả buồng phổi của Mẹ đã mở ra.” Đó cũng là một điều thiên phú. Nhưng có điều tôi vẫn tâm niệm rằng trời cho mình cái gì thì mình phải ôm lấy nó, trân trọng cái đó, nghĩa là phải tập luyện để giữ được nó, để làm lớn, làm mạnh nó lên. Chú không thể cứ nghĩ thiên phú là không cần tập dượt, và còn phải yêu nó nữa thì mới có những thành tựu.
Hỏi: Chị đang nói về thiên phú, vậy chị có nghĩ rằng một điều khác trời cũng cho chị là đầu óc chị, tâm hồn chị dễ dàng cảm nhận được những gì tác giả các bài nhạc muốn gửi gấm, và chị đã dùng cái thiên phú đó để truyền đạt được tâm tình tác giả đến người nghe? Nhiều người có thể xướng âm những dòng nhạc, những lời ca của nhiều tác giả, nhất là của Phạm Duy, nhưng họ không có cùng cái cảm xúc như chị, họ không “cảm” được như chị.
TT.: Tôi không biết chuyện tôi cảm thông được với các tác giả có phải là thiên phú không. Nhưng điều đầu tiên tôi muốn nói về chuyện này là người ca sĩ phải biết yêu tiếng nói của nước mình, phải yêu tiếng Việt của mình. Người ca sĩ còn phải yêu đất nước mình nữa. Khi trong bài hát có nói đến những xứ sở, những vùng nào đó trên đất nước mình, thì mình cũng phải cảm thấy yêu cả những địa danh đó nữa, Miền Trung, Miền Nam, Miền Bắc. Đặc biệt tôi sinh ra ở Hà Nội thì khi đọc đến hai chữ Hà Nội tôi cảm thấy một tình cảm yêu mến vô bờ. Nếu mình không yêu chữ của nước mình thì giống như mình hát một bài hát ngoại quốc vậy. Thí dụ đọc đến chữ “em bé quê” là mình cảm thấy dào dạt tình thương yêu các em nhỏ sống ở những vùng quê nghèo nàn, tôi nói yêu chữ nước mình là vậy. Còn một chuyện nữa là tôi yêu người nghe, luôn luôn tôn trọng khán thính giả. Tôi rất thận trọng khi hát.
Hỏi: Thưa chị, về một trường hợp cá biệt, khi nghe chị hát bài “Hương Ca Vô Tận” của Trầm Tử Thiêng, khán thính giả thấy chị hầu như đã diễn đạt được hết cái tâm tình của nhạc sĩ, trong đó có cả phần tâm tình của chị. Có phải chị đã được tác giả chia sẻ chút ít về bài hát đó?
TT.: Tôi đã hát bài đó của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cách đây nhiều năm, khi chúng tôi còn ở Việt Nam. Với ca sĩ được làm thân, được nói chuyện với các nhạc sĩ là điều rất thú vị vì mình hiểu biết hoàn cảnh các bài hát hơn. Khi nói chuyện với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng tôi mới biết ý của ông trong những lời ca. Trong bài có những câu như “Hát nữa đi hương...”, nhiều khán thính giả tưởng “hương” là tên một người con gái, nhưng có nói chuyện với ông mới biết chữ “hương” là ông muốn nói đến “quê hương.”
Hỏi: Chúng ta qua một chuyện khác. Người đời thường hay dè bỉu những bài nhạc đại chúng, được đông đảo quần chúng ưa thích vì giai điệu, cấu kết giản dị, dễ dãi. Họ gọi đó là loại nhạc “sến”. Chị có nghĩ là nên gọi như vậy không, nên phân biệt như vậy không, và chị có hát những bài hát đó không? Chị có thích đặc biệt một nhạc sĩ nào không?
TT.: Dùng chữ “sến” để chỉ nhưng bài nhạc đó là thiếu lịch sự, và chắc chắn là tôi có hát những bài loại đó. Ngày xưa, có một ông nhạc sĩ nay đã mất rồi, tôi không nhớ rõ tác giả nào, nói với tôi thế này: “Thái Thanh ạ, nếu có một loại nhạc gọi là nhạc sến thì tôi xin làm sến, vì Thái Thanh mới trình bày một bài hát với hình ảnh đẹp đẽ quá, tươi tắn quá, và nếu tôi là sến tôi sẽ may cái áo thật đẹp để mặc.” Còn bảo rằng thích đặc biệt một nhạc sĩ nào thì câu trả lời là không. Thích một bài hát nào thì tôi hát bài đó với tất cả tâm hồn, không cứ bài đó là của ai. Thực ra cũng có thể nói là những bài của Phạm Duy, Phạm Đình Chương, vì là những người trong gia đình, nên khi chúng chưa ra ngoài thính giả thì tôi đã được nghe trong gia đình, tôi đã được các ông ấy gọi ra để hát thử từng đoạn trước khi tác phẩm hoàn thành, đương nhiên những bài của hai ông ấy tôi hát nhiều.
Hỏi: Vậy thì cũng xin chia sẻ với chị kinh nghiệm này, hồi còn trẻ, còn sinh viên, quả thực bọn em có thái độ phân biệt với những bài hát giai điệu dễ dãi. Phải đợi đến khi nằm tù ở Thanh Hóa 7, 8 năm trời, lúc đó em mới thấy hết giá trị của những bài bị gọi là sến kia. Lúc đó, giai điệu, lời ca những bài đó sao thấm thía đến thế. Lúc đó nghe “Nghìn Trùng Xa Cách” em không khóc như khi nghe “Xuân Này Con Không Về”, hoặc nghe “Phố Buồn” em cũng chỉ thấy sao xuyến như nghe bài gì của Trúc Phương có câu “đèn khuya mắt đỏ...” Lúc đó em mới nhận ra những bài hát đó thực sự là tiếng nói, tâm tình của đa số người dân miền Nam, của mọi người. Bây giờ xin đi đến một câu hỏi khác: Sau 1975, chị còn ở trong nước, chị có hát không, chị sống như thế nào?
TT.: Nói đúng ra thì tôi không hát. Lý do là vì khi người Cộng Sản vào miền Nam, tôi thấy họ khác mình quá, cái gì cũng khác. Khác hay hay khác dở thì tôi không bàn, nhưng tôi thấy không có gì giống tôi, giống trước đây, thì tôi không hát. Sau khi mời tôi không được thì tôi “được” họ cấm hát, thế thì tốt quá. Họ nói tiếng hát Thái Thanh là của “Ngụy”, chứ không phải của họ. Tôi kể câu chuyện nhỏ này: Cô Kim Cương mấy lần đến nhà tôi ở đường Cống Quỳnh, nói rằng “chị ở căn nhà này chật hẹp, nóng nảy quá”, ngỏ ý muốn mời tôi đến ở cùng nhà với cô ấy, vì tôi chỉ có một thân một mình, và cô ấy cho rằng tôi sống trong hoàn cảnh khổ quá. Kim Cương ở một ngôi nhà lớn, có máy lạnh, nước nóng nước lạnh. Cô ấy khéo lắm, nói rằng “Không phải em mời chị đến để rồi yêu cầu chị hát đâu, từ ngày xưa em đã tự bảo rằng chỉ cho tôi hát một ngày được như Thái Thanh thì sau đó có phải chết tôi cũng bằng lòng.” Cô ấy khéo thế đấy. Nhưng tôi từ chối viện lý do là tôi ở đâu quen đó, lại gần chợ nữa, và tôi không làm việc nổi vì các con tôi đều ở xa, tôi nhớ chúng lắm chẳng bụng dạ nào đi hát cả. Còn về đời sống, tôi cứ bán dần đồ đạc, nữ trang đi để mà sống qua ngày vì tôi có làm gì ra tiền. Đến bây giờ tôi rất hài lòng vì tránh được mọi điều ép buộc của nhiều người lúc đó.
Hỏi:
Bây giờ thì đến một câu hỏi khá riêng tư không biết chị có vui lòng trả lời không. Thực ra chị là người của công chúng, chị có thể chia sẻ mọi điều với công chúng. Câu hỏi thế này: Chị là người duyên dáng, khả ái, có đôi tay đẹp, nhất là đôi mắt vô cùng thu hút, vậy không biết các chàng trai trẻ từ xưa đến giờ bị chị thu hút đến thế nào, chị tiết lộ được không?
TT.: Cô ca sĩ hay hát Trịnh Công Sơn, cô Khánh Ly, trước ngày mất nước, tức là cách đây hơn hai chục năm, có lần nói với tôi thế này: “Nếu cháu là chồng của cô, cháu đành phải để cô đi hát trước khán giả, nhưng cháu sẽ giữ hai bàn tay cô ở lại nhà, cháu không cho ai được nhìn hai bàn tay ấy khi cô hát.” Còn chuyện các chàng trai trẻ, thì trong cuộc sống chúng ta mấy chuyện đó cũng như nhau thôi.
Hỏi: Thí dụ trong ban Gió Nam có anh Trần Văn Trạch, một người trình diễn thành công rất mê chị?
TT.: Anh Trạch là một người kín đáo, trước khi mất anh ấy mới nói cho mọi người biết anh ấy mê Thái Thanh. Tôi chỉ nhận thấy là anh ấy hay đến nhà chơi với các anh các chị, và hay nhìn tôi. Lúc đó mình còn trẻ quá. Thực ra cho đến bây giờ chuyện tình cảm của Thái Thanh cũng kỳ cục lắm, phải nói thẳng ra là “này cô Thái Thanh, tôi thế này, tôi thế nọ” thì Thái Thanh mới biết, mới tin, vì khán giả yêu mình cũng biểu lộ như vậy, làm sao mình biết được ai yêu mình thật, ai mê tiếng hát của mình thôi. Có nói ra tận miệng thì tôi mới biết: “ủa, vậy hở!”
Hỏi: Còn với những văn nghệ sĩ miền Bắc gặp chị sau 75 thì sao, có cán bộ nào “nói thẳng” với chị không?
TT.: Ai cũng thấy thái độ bất hợp tác của tôi thì còn cán bộ nào tìm đến nữa. Mà có “nói thẳng” thì câu trả lời cũng không là “Me too” đâu đấy nhé. Với các anh chị văn nghệ sĩ như Văn Cao, Hoàng Cầm,... đều đến gặp tôi, đôi khi cũng nói để cho mình vui lòng ấy mà, như anh Văn Cao nói thế này: Nếu tôi còn trẻ thì thế nào cũng xin cưới Thái Thanh. Anh ấy bông đùa như vậy nhưng tôi cũng không dám trả lời “Me too!”
Hỏi: Nhưng rõ ràng sau khi chị ly dị với anh Lê Quỳnh, chị có một khuôn mặt mới trong cuộc đời là ông chủ khách sạn Catinat?
TT.: Anh Phạm Đình Chương mở phòng trà “Đêm Màu Hồng” trong khách sạn Catinat, nên biết anh Trần Quý Phong. Mới cách đây mấy hôm (Tháng Hai, 2004), trong khi nói chuyện điện thoại với anh Phong, tôi có hỏi anh ấy rằng “Thế thì anh mê Thái Thanh từ khi biết ở Đêm Màu Hồng hay là mê từ khi nghe Thái Thanh hát”, anh ấy trả lời lâu rồi chứ, đâu phải đợi đến Đêm Màu Hồng. Thực ra sau đó anh Phong đã ly dị, và tôi cũng đã ly dị một thời gian rồi, anh ấy đang tìm chỗ để tổ chức đám cưới thì xẩy ra 30 Tháng 4, 1975.
Hỏi: Sau 1975 thì sao và bây giờ anh ấy ở đâu?
TT.: Tôi đi Mỹ khi anh Phong còn ở tù. Sau 14 năm anh được thả nhưng không đi Mỹ vì anh còn mẹ. Sau khi cụ mất anh ấy mới xin đi Mỹ và hiện ở Atlanta.
Hỏi: Nếu bọn em mua vé máy bay mời chị đi Atlanta thì sao?
TT.: Xin cám ơn cô chú nhưng không đi được vì chúng tôi chưa cưới hỏi, phải không? Mà nếu chỉ là bạn bè thì đâu cần đi xa đến thế.
Hỏi: Chị nhớ một kỷ niệm nào ở Đêm Màu Hồng?
TT.: Kỷ niệm thì nhiều, nhưng có một chuyện tôi nhớ mãi đến bây giờ: Một hôm tôi hát bài “Kỷ Vật Cho Em” xong thì thấy mấy bà khóc. Các bà ấy đều có chồng, có anh em tử trận. Điều đó thật là day dứt.
Hỏi: Năm 1985 chị qua đến Hoa Kỳ, mọi người vui mừng đón tiếp chị trong đêm tái ngộ Thái Thanh ở hải ngoại, sau đó chị không có hoạt động gì nhiều về văn nghệ?
TT.: Sau đêm đó, một số “bầu sô” mời tôi hợp tác. Tôi không dám nhận lời nhiều vì lý do còn phải đi học ESL, thời gian học này kéo dài mấy năm. Về sau tôi chỉ ghi đĩa với cô Thái Xuân (Trung tâm Diễm Xưa) vì Thái Xuân chịu chiều theo ý tôi. Thí dụ mỗi CD thỉ có một mình tôi hát chứ không xen lẫn nhiều người. Tôi rất cảm ơn Thái Xuân vì cô ấy đã cố gắng làm mọi điều theo yêu cầu của tôi, như có bài hát tôi cần tiếng đàn tay chứ không phải đàn điện thì dù tốn kém mấy cô ấy cũng mua, khi thu băng đôi khi tôi cần tiếng đàn harp, cô ấy cũng chiều dù cho tiền thuê loại đàn đó cũng như tiền trả cho người chơi rất đắt. Trong một bài hát nhiều khi cần cả mấy thứ đàn đó, nhưng đàn tay vẫn là thứ tôi thích nhất, tiếng đàn đó “có lòng nhất”. Hồi xưa tôi thường thích ban nhạc Nghiêm Phú Phi đệm, sau này cô Thái Xuân đã chọn ban nhạc toàn người Mỹ để đệm cho tôi.

Chúng ta vừa mới đọc qua đôi điều thú vị về Thái Thanh, người ca sĩ lớn lao của đất nước Việt Nam. Gia đình cô còn sản xuất những người con nổi tiếng: Ý Lan, Quỳnh Hương, Thanh Loan đã nổi tiếng trong giới nghệ thuật, truyền thanh, Lê Việt đã tốt nghiệp kỹ sư còn nhất định lấy thêm bằng bác sĩ y khoa, và đặc biệt Lê Đại từ một thanh niên bị tê liệt vẫn kiên trì học để tốt nghiệp đại học, đi làm trong dòng chính của Mỹ. Tất cả những ý chí, tài hoa đó hẳn phần nào được Thái Thanh truyền cho. Trong đêm Thái Thanh và 3 thế hệ, đàn con cháu xum vầy chung quanh, tất cả đều cất lên tiếng hát ngợi ca Mẹ và Bà, ngay chàng bác sĩ Lê Việt cũng đã chứng tỏ là có một giọng ca truyền cảm, và một cung cách thật chân chất, khiêm nhường.
Để kết thúc bài này, chúng tôi xin mượn ít dòng của nhà văn Thụy Khuê: “Chúng ta có nhiều nghệ sĩ sáng tác những nhạc khúc tuyệt vời với ngôn ngữ thi ca, nhưng chúng ta có ít ca sĩ thấm được hồn thơ trong nhạc bản. Đạt tới tuyệt đỉnh trong ngành trình diễn, Thái Thanh nắm vững cả bốn vùng nghệ thuật: nghệ thuật truyền cảm, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật thi ca và nghệ thuật phát âm tiếng Việt, giữ địa vị độc tôn trong tân nhạc Việt Nam gần nửa thế kỷ: Thái Thanh Chẳng cần làm thơ cũng đã là thi sĩ.
“Giữa những phôi pha của cuộc đời, tàn phai của năm tháng, giọng hát Thái Thanh vang vọng trong bầu trời thơ diễm tuyệt, ở đó đau thương và hạnh phúc quyện lẫn với nhau, người ta cho nhau cả bốn trùng dương và mặc tàn phai, mặc tháng năm, tiếng hát vẫn bay bổng ở chốn trần gian hoặc ở vô hình.”
Phạm Duy đã chuyên trở lịch sử đất nước Việt Nam, ưu tư về vận mệnh dân tộc Việt Nam, về thân phận con người Việt Nam trong những tác phẩm của ông. Thái Thanh đã truyền đạt mối ưu tư đó, sức nặng lịch sử đó cho tất cả chúng ta. Cô đã nuôi dưỡng niềm tin, lòng yêu nước, tình người cho nhiều thế hệ chúng ta. Xin cảm ơn Thái Thanh và Phạm Duy.