Showing posts with label Thơ – Những ngày chưa vào tù. Show all posts
Showing posts with label Thơ – Những ngày chưa vào tù. Show all posts

Monday, February 2, 2009

nhân danh


Sài, Gòn, 1964
Đỗ Tăng Bí

tôi sẽ nhân danh tôi tôi giết tôi,
còn hơn để bọn chúng nhân danh thượng đế,
còn hơn để bọn chúng nhân danh con người
giết tôi.

đời tôi


Sài Gòn, 1968
(viết cho đêm thơ Chiến Tranh và Tình Yêu)
Đỗ Tăng Bí


1945.
Khi tôi vừa chập chững biết đi
trên mặt đất nước này Việt Nam yêu dấu,
tay non đánh mất 16 tháng trời cha mẹ nâng niu
thì Thầy tôi qua đời,
cùng hai triệu người chết đói.

nhưng tôi chưa biết vui chưa biết buồn,
chưa biết khóc đau thương chưa biết cười hạnh phúc.
ruột Mẹ chín khúc môi con vẫn rạng rỡ đêm ngày.
16 tháng trời tim vẫn thơ ngây,
đất nước khổ đau vẫn ngủ vùi sớm tối.

Tám tuổi đầu theo Mẹ xa quê.
tôi bỏ lại đằng sau mái tranh ngút lửa.
lũy tre ngày nào tuổi nhỏ,
giờ đã nám đen trụi lá xác xơ.

kể từ đấy nứt vỏ ngây thơ,
lên phố phường Hà Nội lòng đã biết buồn, biết thương, biết nhớ,
biết đất nước khổ đau biết quê hương tan vỡ.

Biết vì sao chị tôi bị những người bên kia sông bắt giữ trước buổi thành hôn,
Biết vì sao anh tôi bị “Ủy Ban Hành Chánh” chém đầu giữa chợ,
Dù thầy tôi chỉ là một nhà nho nghèo,
trót dậy mấy người vài chữ,
chính những người có con bắt bớ chị tôi,
chính những người có con chém đầu anh tôi.

1954
Tôi theo Mẹ lên tàu đến một vùng xa thật lạ.
ở đó Việt Nam rất khác Việt Nam.
ở đó Sài Gòn rất xa Hà Nội.
ở đó làng quê không giống làng tôi.
(làng tôi Đại Mão, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh)


Ngần đó năm trời trôi nhanh.
tôi trưởng thành giữa một trời lửa đạn.
vẫn những người mũi lõ mắt xanh,
vẫn những ủy ban này nọ miền quê đêm tối ,
vẫn những hoạt đầu thành thị bán buôn máu xương.

rồi anh tôi chết,
và tôi bỗng yêu Miền Nam tha thiết.
yêu Sài Gòn hơn cả quê xưa.
yêu trời nắng bất chợt trời mưa.
yêu tiếng tiếng hát láng giềng, radio sớm tối.
yêu những con người thương đau quá đỗi,
suốt một đời vẫn xóm lều chật trội,
và các em tôi nhơm nhếch vỉa hè.
vẫn chiến tranh, vẫn mũi lõ mắt xanh.
vẫn những áo đen lách luồn như chuột.

rồi mỗi ngày vẫn qua, lầm lì cuộc sống,
sống nhọc nhằn như chưa biết trẻ thơ.
lòng tự hỏi cho đến bao giờ
các em tôi sẽ hát thanh bình trở lại?

Thái độ







Saigon 1968 – (viết cho đêm thơ Chiến Tranh và Tình Yêu)

Đỗ Tăng Bí

Thôi ghê tởm lắm rồi
những lời tuyên ngôn ấy.
thôi ghê tởm lắm rồi
những “ngày vinh quang” ấy.

Tôi nào mong chiến thắng
những con người như tôi.
Tôi nào cam chiến đấu
chống con người như tôi.

Trăm năm nô lệ người,
hai mươi năm cốt nhục.
còn cần chi văn minh,
còn cần chi đĩ điếm.

máu còn loang sũng mặt,
xương còn ôm cứng tay.
ngàn anh em tôi đó,
sao còn cho máy bay.

tôi không cầu xin ai,
đừng mang bom đạn tới.
tôi không cầu xin ai,
đừng nhân danh liên đới.

tôi chỉ xin một điều,
hãy ngừng cho một phút
lửa bom và tuyên ngôn,
cho tôi ôm mặt khóc.

tôi chỉ xin một điều,
trả tôi một mảnh đất
không bom không lửa thiêu
không hận thù chém giết,

để
tôi chôn anh em tôi.
tôi chôn sâu tình người.
tôi chôn thượng đế, rồi
tôi cầm dao chiến đấu.

Lara

Sài Gòn 1965 – Thư viện Đồn Đất

Đỗ tăng bí

Những chiếc lá rơi ngoài trời,
không một âm thanh vang động.
nhưng tiếng rụng âm thầm xoáy tận hồn tôi.
và trong tôi có cả tiếng mùa đông mon men ngoài cửa sổ.

chiếc bàn trải dạ xanh chạy dài vô cùng,
hoặc ngừng lại, như một khung nhà ấm
một không gian êm đềm,
nơi có người ngậm đầu bút chì ẩn náu.

tiếng guốc đơn sơ một người con gái
gõ trên nền gạch,
như hòn đá rơi vào ao ký ức.
sóng gợn hình đất trời thuở Lara.

tôi ngồi yên,
gục đầu trên tay ôm ấp mặt bàn,
dạ xanh êm đềm ấm nồng hơi thở của nàng,
nghe khí lạnh tràn trên bờ vai
chạy vào máu luân lưu cơ thể.

ôi dù sớm thế nào cũng là vẫn trễ,

Lara.


sài gòn khuya
1965
Đỗ tăng bí


Hôm nay nàng mặc áo hồng
mười một giờ khuya trời như rạng đông
tim nóng nhảy bừng khúc luân vũ
yêu hoài yêu mãi bao giờ nguôi lòng

Vạn Hạnh


Sài Gòn – 1966

Đỗ Tăng Bí

Trong thư viện này
Phật còn ngồi đây
Một đời thương nhớ
Phật nào có hay

Sáng nghe chim hót
Chiều xem mây bay
Ôi chao giáng hình
Luẩn quất đâu đây

Nắng vào gáy sách
Nắng gọi tên ai
Nắng reo khúc khích
Cười, ai – Cười, ai?

Bà ni cô hiền
nhẹ bước bình yên
lưng trời tiếng mõ
cuộc tình đảo điên

Còn em còn em
đâu rồi đâu rồi
ngày qua ngày qua
ta ngồi ta ngồi
đời trôi, và đời vẫn mãi trôi…

dương cầm


Đỗ Tăng Bí
SàiGòn 1968

Từng gợn sóng tình,
theo tay giọt nhẹ.
muôn đời thôi nhé,
làm kiếp đi hoang.

Hồn anh đau nhói phím đàn.
lạy em ngàn lạy đừng đang tay dằn.

anh yêu em như yêu âm thanh.
ngàn năm.
thôi đành.

khóc anh

Đỗ Tăng Bí
SG 1963

Hăm bẩy tuổi đầu anh trả nợ cho ai
khi đất nước khổ đau chia cắt hình hài
hăm bẩy tuổi đầu anh trả nợ cho ai
tôi khóc anh tôi uất hận từng hồi

Bảo rằng trả nợ quê hương
quê hương đâu cần xương máu đó
bảo rằng trả nợ nhân dân
nhân dân nào mong mỏi chiến tranh

Trong quán cà phê


Sài Gòn 1968
Đỗ Tăng Bí

Trong quán cà phê nhạc buồn trỗi dậy.
Sérénade de Schubert.
Nắng chiều bùi ngùi muốn khóc,
Cho đêm tới dỗ dành.

Trong quán cà phê một người cúi đầu.

Trong quán cà phê nhạc buồn nức nở.
Bàn thì thầm bảo nhau nhịn thở.
Ghế nằm yên không dám khóc.
Nhạc lên nốt cao
Đĩa tách xôn xao
rướm máu.

Trong quán cà phê một người cúi đầu.

Trong quán cà phê một người ngóng đợi
một chút tình sơ, một chút lững lờ,
một nét môi tơ, một ánh mắt hờ,
và một chút thơ
và một chút thơ.

và còi trỗi dậy,
và người trỗi dậy.

một ngày giới nghiêm,
một trời giới nghiêm,
một đời giới nghiêm.

Cô giáo tôi

Đỗ Tăng Bí
Trần Hưng Đạo – Đà Lạt – 1957
Những bài thơ khi học Đệ Lục, còn nhớ được.

Cô giáo tôi, cô Lan.
Cô Lan đẹp như những buổi trời mây quang đãng và hiền như những vì sao lấp lánh trong đêm.
Giọng cô nói êm quá, êm như tuyết rơi lất phất giữa trời đông,
Tiếng cô cười dịu quá, dịu như tiếng lá mùa thu lao chao rụng.

Cô có biệt tài thổi sáo.
những hơi thở luồn vào ống trúc rồi thoát ra từ đầu ngón tay cô cất lên những âm thanh cao vút tận mây xanh hay hà ra những tiếng trầm như tiếng vang của âm hồn người chết.

Hôm qua cô nhận tin một người đụng xe bị thương, ở Sài Gòn.
Sáng nay mắt cô đỏ hoe trong lớp.
Và tôi buồn.
Và tôi ấm ức.

Ngoài kia, nắng vẫn nhảy múa trên các chòm lá thông.
nắng vàng thật trong và lá thông xanh ngắt.
trời cũng xanh và chim bay, mây bay.
mọi sự đều như hôm qua, như những ngày trước đó.

như những ngày tôi còn hạnh phúc.


tương tư buồn
Trần Hưng Đạo, Đà Lạt, 1957 - Những bài thơ khi học Đệ Lục, còn nhớ được.

Lòng ta buồn nào biết bởi vì đâu.
lòng ta buồn mà chẳng được ai trao
cho một chút niềm vui của toại nguyện.

cõi hư vô cửa rộng mở thênh thang
để đón những nét buồn của lòng thương nhớ hão
một nỗi buồn mênh mang tràn mọi nẻo
trong những chiều xám ngắt một màu mây

lòng ta buồn nào biết nói gì đây