Showing posts with label toilambao nguoiviet. Show all posts
Showing posts with label toilambao nguoiviet. Show all posts

Tuesday, February 3, 2009

1,000 đồng to lắm

Khi người ta bước vào tuổi 60, đây là cơ hội cuối cùng để cố gắng sống lương thiện.
Đỗ Tăng Bí

Ngày 30 Tháng 9, năm 2004, tôi khởi đâu ghi chép về những ngày tôi làm báo Người Việt. Hôm nay, ngảy 3 Tháng Hai, 2009, tôi mới có cơ hội nối tiếp câu chuyện này. Gần 5 năm trời cách quãng, biết bao sự việc xẩy ra, bao nhiêu đổi thay, nhưng chắc là câu chuyện không vì thế mà thay đổi. Tôi vẫn đi từ những ngày đầu cho tới những ngày gần đây.
Sau ngày 18 Tháng 8, 1991, 5 ngày 1 tuần, tôi lái xe từ Irvine lên tòa báo Người Việt ở số 14891, Moran St., thành phố Westminster. Mỗi ngày tôi đều mang theo ít đồ ăn trưa, kèm theo ít cà phê bột tan liền và đường. Lan Anh, vợ tôi, vẫn chưa tìm ra việc làm. Cả nhà 2 vợ chồng, 2 đứa con sống hoàn toàn bằng khoản tiền thất nghiệp của vợ tôi. Sau một tháng rưỡi, anh Đỗ Ngọc Yến bảo tôi: “Tôi có nói Tống Hoằng trả ít lương cho Bí. Không biết là bao nhiêu.” Tôi về nói lại, vợ tôi cũng mừng, chưa biết bao nhiêu nhưng cứ có thêm chút tiền là mừng rồi. Hôm sau anh Tống Hoằng gặp tôi trong thư viện và nói, đại khái mỗi ngày “ông dịch ít tin đi, mỗi tháng tôi trả $250. Tờ báo chưa kiếm ra nhiều tiền.” Tôi ậm ừ vì có biết mặc cả lương bổng bao giờ đâu. Sau đó một tháng, tôi mang về cho vợ tấm check $250. Đây là món tiền thứ nhì tôi kiếm được ở Mỹ. Hồi mới qua Mỹ, tôi đi lau nhà một buổi, được lãnh $50. Bây giờ tôi không cần giữ kẽ mang theo đồ ăn riêng, mà đóng tiền ăn cơm luôn ở Người Việt. Suốt một tháng rưỡi, tôi làm việc không lương, nhưng vẫn nhẫn nhịn vì tôi biết vợ tôi rất lo không có tiền mà sống. Vả chăng, lúc đó chắc là công việc tôi làm chỉ đáng vứt sọt rác. Nhưng tôi tin rồi sẽ kiếm ra tiền, cuối cùng có thật, $250 lúc đó chắc là cũng to, mua được cái gì thì tôi không biết, nhưng thấy vợ mừng là tôi hạnh phúc. Khoảng 2, hay 3 tháng sau gì đó, ông Hoằng tăng lương cho tôi lên $500/ tháng. Lan Anh súyt soa: “Em chỉ cần anh kiếm được $1,000 mỗi tháng là được rồi” Ôi, một ngàn đồng, biết thuở nào đạt được ước mơ đó! Các bạn trẻ, các bạn có biết không, sau 16 năm trời xa cách, tôi chỉ mong kiếm được một ngàn đồng mỗi tháng là sẵn sàng tha thứ cho những kẻ đưa tôi vào kiếp đọa đầy, bắt gia đình tôi ly tán 16 năm trời. Lúc đó tôi nghĩ rằng, Trời, Phật đã ban ơn cho tôi như vậy, tại sao tôi không ban ơn tha thứ cho kẻ khác! Một ngàn đồng mỗi tháng, to lắm các bạn ạ. Hình như 5 năm sau tôi mới kiếm được $1,500 / tháng, với gần như 7 ngày một tuần, mỗi ngày 10 đến 12 giờ.
Phải nói ngay điều này là số ngày, giờ đó là do chính tôi tự định, không ai bắt buộc. Là một kẻ quê mùa, dốt nát, (cái monitor của hệ thống computer mà tôi nghĩ nó cũng giống như cái TV, có thể coi truyền hình được), nếu không làm việc cật lực làm sao tôi có thể theo kịp các bạn qua trước, lại thêm bằng cấp đầy mình. Suốt 7 năm trời, từ năm được thả về 1984 đến năm 1991 được qua Mỹ, tôi chẳng chịu học hành gì cả. Tiếng Mỹ, tiếng Tây Ban Nha, kể cả tiếng Quan Thọai, tôi cũng đều có học, nhưng chỉ vài bữa là bỏ. Tự nghĩ rồi đến lúc cần thứ nào tôi sẽ có thứ đó, học trước làm gì “mất cả vui”. Lại nữa, hai cô giáo tiếng Tàu và tiếng Mễ đều dễ thương, nên cách hay nhất là “vui trước đã, học tính sau”. Về computer tôi cũng một niềm “tự tin” như vậy, nhất định không thèm nhìn đến. Cái khoản thời gian 7 năm này chắc chắn tôi sẽ ghi lại kỹ càng trong loạt ghi chép về toàn bộ cuộc đời tôi, ở đây đang là chuyện làm báo Người Việt.Một điều nữa cũng cần nói ngay là các bạn cứ nghĩ coi, một bà vợ tự lo mọi chuyện suốt 16 năm trời cho gia đình, bây giờ chỉ ao ước tôi mang về có $1,000 mỗi tháng, làm sao tôi có thể biếng nhác ham vui. Phải tìm cách kiếm cho được một ngàn đồng mỗi tháng. Một năm sau, tôi được tăng lương $750 / tháng, thêm sáu tháng nữa, tôi toại nguyện! Ngày tôi mang về tấm check $1,000 đầu tiên, lúc đó vợ tôi đã có việc làm, lương ít hơn xưa, nàng nâng niu tấm check và cảm ơn tôi thật nồng ấm. Vợ tôi còn tuyên bố: “Bây giờ bố có làm bao nhiêu chăng nữa, em cũng chỉ xin một ngàn đồng, chỗ còn lại để bố bao bồ nhí!” Nhưng chuyện “chỗ còn lại” chẳng bao giờ xẩy ra vì làm sao chúng mình dám vùng lên như vậy. Cho nên phải làm việc cật lực thôi các bạn ạ, để bù cho 16 năm trời không làm được tích sự gì.

Friday, January 16, 2009

Tôi Làm Báo Người Việt

Khi người ta bước vào tuổi 60, đây là cơ hội cuối cùng để cố gắng sống lương thiện. Đỗ Tăng Bí

1


Hôm nay ngày 30 Tháng 9, 2004. Tôi bắt đầu ghi lại những gì còn trong trí nhớ về Công ty Người Việt (NV), tờ báo Người Việt (NV) kể từ ngày 18 Tháng 8, năm 1991, ngày tôi bắt đầu vào làm ở nhật báo Người Việt.
Những gì tôi ghi lại là 1)- những sự kiện tôi còn nhớ, có thể không rõ ngày tháng chính xác; 2)- Đối chiếu với những gì tôi nghe được từ người khác lúc đó và bây giờ 3)- cảm tưởng, nhận xét, suy nghĩ của tôi lúc đó và bây giờ.

Tôi nhớ được ngày bắt đầu đi làm ở Người Việt là ngày 18 Tháng Tám, 1991 vì đó chính là ngày ông Gorbachev đổi mới ở Nga. Do đó vài tuần lễ sau anh Lê Đình Điểu giao tôi soạn một quyển sách thuật chuyện ông Gorbachev đã phá tan thành trì Chủ nghĩa Cộng Sản ra làm sao xuyên qua những sự kiện thời sự lúc đó. Nhưng dự án này bỏ dở vì vài ngày sau anh Điểu không còn làm ở tờ báo Người Việt nữa. Chuyện này sẽ được đề cập sau này. Bây giờ tôi xin bắt đầu những gì tôi còn nhớ về lý do nào tôi vào làm Người Việt.
Tôi đến đất Mỹ vào ngày 1 Tháng 7, năm 1991. Ngày 4 Tháng 7 anh ruột tôi, anh Đỗ Quý Toàn và vợ tôi đưa tôi đi chơi San Francisco. Anh Toàn ở Canada nhưng cũng hay qua Mỹ, nên anh lái xe suốt đoạn đường đưa tôi đi chơi. Tôi hoàn toàn bỡ ngỡ trước khung cảnh ở Mỹ nên cũng không thấy hào hứng gì lắm về chuyến ngao du này, chỉ nhớ là khi đang đi thăm tòa tháp nào đó ở vùng Vịnh thì gặp anh Phan Lạc Tiếp, hai bên nói chuyện vài phút rồi chia tay. Tôi chưa biết anh Tiếp bao giờ nhưng nhớ cuộc gặp gỡ vì sau này có liên lạc với Anh và biết Anh là người thật hiền lành, đứng đắn. Rong chơi hai ngày, đến ngày 7 Tháng 7, trên đường về nhà tôi ở Irvine, anh Toàn đưa tôi thẳng đến nhà anh Đỗ Anh Tài ở Cucamonga dự cuộc họp mặt anh em đón tiếp anh Hà Tường Cát và tôi mới ở Việt Nam qua. Đây là lần đầu tiên tôi gặp những anh em cũ ở trên đất Mỹ. Hôm tôi đến chỉ có gia đình tôi đón ở phi trường Los Angeles, anh em không có ai, khác với khi đón anh Cát trước đó hơn một tháng, hoặc sau này đối với các anh Phạm Phú Minh, Trần Đại Lộc. Nghe vợ tôi nói anh Điểu có hỏi giờ và số chuyến bay vì dự trù từ Người Việt sẽ có vài anh đi đón. Nhưng cuối cùng không có ai. Chuyện này sau tôi mới hiểu vì sao.
Trên đường rong ruổi đi San Francisco rồi trở về, anh Toàn có vài lần nói với tôi là không nên vào làm báo Người Việt vì không khí ở đó không được lành mạnh lắm, anh em tụ họp đông quá trong hoàn cảnh hoàn toàn mới nên không được vui vẻ như ngày xưa làm công tác thanh niên, xã hôi. Cho nên khoảng 10 ngày sau khi đặt chân lên đất Mỹ, tôi mới được anh Toàn đưa đến thăm anh em ở báo Người Việt. Ngay lúc đó, anh Tống Hoằng rủ riêng tôi đi ăn trưa, có lẽ tiệm Song Long, và nói đi nói lại với tôi là ở báo Người Việt đang đông nhân viên quá, không có việc cho tôi làm đâu. Tôi trấn an Tống Hoằng rằng tôi không hề có ý định xin vào làm ở Người Việt. Tôi nói anh Đỗ Ngọc Yến có gọi điện thoại nói chuyện vào làm việc ở tòa báo nhưng tôi trả lời còn phải làm nhiều thủ tục nhập cư nên chưa có thì giờ. Khi nghe kể chuyện Tống Hoằng sợ tôi xin việc làm, vợ tôi nhớ ra và kể chuyện trước khi tôi qua Mỹ, anh Điểu cũng đã gọi điện thoại nói rằng ở tờ báo bây giờ không còn chỗ làm, kêu vợ tôi lên học về mấy cái máy lọc nước để sau này chỉ lại cho tôi cách bán các máy này. Nghe kể chuyện, anh Toàn cho biết đang có tranh chấp gì đó ở Người Việt, mình không dính vào chỗ đó làm gì.
Trong khoảng hơn một tháng trời kể từ bữa lửa trại hội ngộ ở nhà anh Đỗ Anh Tài tôi luôn luôn tránh nghe điện thoại của anh Yến để khỏi phải nại lý do từ trối lời rủ rê làm việc ở báo Người Việt. Mỗi lần anh Yến gọi, vợ tôi hoặc con tôi đều trả lời tôi đang ngủ, tôi đang đi dạo ngoài đường, hoặc tôi đi chơi đâu đó. Dĩ nhiên là tôi không gọi lại cho anh Yến theo như lời nhắn của anh. Đầu Tháng Tám, Yến nhờ Phan Huy Đạt gọi nói với tôi chuyện đó, tôi trả lời là tôi chưa chuẩn bị gì cả, chưa có bằng lái xe, nên không đi làm được.
Thực ra chân ướt chân ráo tới Mỹ, sau tuần lễ đầu đi chơi, nghỉ ngơi, tôi đi kiếm việc làm ngay vì vợ tôi lúc đó cũng đang thất nghiệp. Năm 1991 là một trong mấy năm nền kinh tế Mỹ xuống thê thảm nhất. Nạn thất nghiệp tăng cao, công ty bà vợ tôi đang làm đóng cửa trước khi tôi qua chừng 3 tháng, và cũng phải 4,5 tháng sau khi tôi qua bà ấy mới tìm được một việc làm với số lương chưa bằng 2/3 trước đây. Cả một tháng trời nghe chỗ nào có việc tay chân hoặc tôi có thể làm được là vợ tôi đưa tôi đến, nhưng rồi chờ dài cổ cũng chẳng ai gọi. Chiều ngày 15 Tháng Tám, vợ chồng Nông Kim Ấn từ San Diego lên nhà tôi chơi. Cả gần hai chục năm chúng tôi chưa gặp nhau. Đang cười đùa thoải mái thì chuông điện thoại reng. Tôi cứ mặc kệ vì vẫn ngại hoặc anh Yến, hoặc người Mỹ nào đó, nhưng Ấn bảo tôi phải nhắc phôn đi chứ, vì cả nhà đi vắng rồi. Tôi đành nhấc máy. Quả nhiên là Yến. Anh nói đủ thứ chuyện, rồi bảo rằng trong báo Register hôm nay có bài gì đó hay lắm, tôi đọc đi rồi dịch ra xem sao. Tôi ậm ừ nhưng anh bảo Thứ Hai lên tòa báo nói chuyện chơi, không phải chuyện làm việc cho Người Việt (tôi có nói với anh chuyện Tống Hoằng nói với tôi), nhưng anh có vài việc riêng muốn nhờ tôi, cũng có thể có ít tiền. Không lẽ cứ dẫy lên đanh đảnh từ chối mãi, tôi đành nhận lời. Khi vợ tôi về nghe kể chuyện mới nói tôi cứ lên đó làm tạm ít lâu cho đến khi kiếm được việc khác. Sau này tôi biết vợ tôi mong tôi đi làm vì lúc đó nhà túng quá, cả nhà sống bằng trợ cấp thất nghiệp của vợ tôi, vừa đủ trả tiền nhà, còn mọi thứ hoặc vay nợ, hoặc sài credit card. Món nợ credit card trả 4, 5 năm sau mới hết.
Do đó, ngày 18 Tháng Tám, tôi phom phom lái xe lên Người Việt. Tôi qua Mỹ được một tháng thì lấy được bằng lái xe, cái bằng quan trọng trên đất Mỹ. Tối Chủ Nhật, vợ tôi vẽ bản đồ đường trong cho tôi đi từ Irvine lên tòa báo Người Việt ở Westminster. Tôi chăm chú nghe chỉ dẫn, dặn dò, nhưng trong bụng đã tính sẽ đi xa lộ. Mấy lần vợ tôi chở tôi đi khu Bolsa, tôi đã để ý đường đi. Nếu tôi vào xa lộ 405 ở đường Jeffry, tôi cứ giữ lane đầu tiên sát bên phải đó mà đi (ở Mỹ gọi đó là lane ngoài cùng), tôi sẽ gặp exit Magnolia. Tôi cứ việc exit và đi lại con đường đã nhớ. Lúc trở về, sau khi vào xa lộ ở Magnolia, tôi chỉ cần đổi một lane là lại gặp exit Jeffry.
9 giờ sáng tôi có mặt ở tòa báo Người Việt. Anh Yến đưa tôi vào thư viện ngồi nói chuyện. Anh vẽ ra hàng trăm dự án, nhưng cuối cùng nhân thấy Tống Hoằng đi qua cửa, anh Yến gọi vào và thản nhiên nói tôi sẽ dịch mỗi ngày một ít tin cho tờ báo, khởi đầu không lãnh lương, sau này tính. Về sau tôi hiểu rằng cứ khi nào nói chuyện không sài tiền thì anh Yến dễ được sự đồng ý của Tống Hoằng. Tôi đã tính trước không ăn uống gì của Người Việt. Tôi mang theo sandwiche cho bữa trưa đã đành, tôi còn mang theo cả cà phê, đường, tăm, giấy lau tay. Chỉ xin Người Việt nước sôi mà thôi. Tình trạng đó kéo dài cả tháng trời cho đến khi có lời đề nghị tôi dùng cà phê của Người Việt.